CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Nguồn điện Lithium 1. Quá trình phát triển của nguồn điện Lithium [4,12] Liti kim loại có khối lượng riêng rất nhỏ 0,543g/cm 3 nhẹ chỉ bằng một nửa nước. Mặt khác Li có điện thế điện cực chuẩn rất âm ∆Φ oLi/Li + =-3,04 V so với NHE vì vậy đứng đầu về hoạt tính điện hoá (dễ nhường electron để trở thành Li+).
Dung lượng tích trữ năng lượng của Liti thuộc vào loại cao nhất 3680Ah/kg, vượt trội so với các loại vật liệu khác. Do đó chúng thích hợp cho việc tạo một nguồn điện có điện thế cao, nếu chọn vật liệu catot thích hợp. Điện cực Liti có thể cho mật độ dòng phóng cao. Một số dòng nguồn điện Liti có thể nạp lại được.
Li dễ bị oxi hóa thành Li +, các ion Li + có kích thước rất nhỏ, chúng dễ dàng chui vào các vật liệu khác “ vật liệu chủ” để tạo nên một vật liệu mới còn gọi là “vật liệu cài”. Liti kim loại hoặc mốt số hợp kim của Liti thường được dùng để làm anot trong các nguồn điện hóa học. Bảng 1 và bảng 2 dưới đây cho thấy dung lượng tích trữ năng lượng của một số vật liệu thường làm anot. Dung lượng tích trữ năng lượng của một số vật liệu anot.
Vật liệu Dung lượng ( Ah/ kg ) Pb 260 Cd 480 Ag 500 Zn 820 Li 3860 Công nghệ Điện hóa 2005-2007 LuËn v¨n tèt nghiÖp 6 NguyÔn Ngäc Hng Bảng 2. Một số tính chất của Liti. Năng lượng ion Khối hóa (kJ/mol) R kl Rion lượng tonc tos εo Li+/Li Kí hiệu riêng Ǻ Ǻ °C °C V g/cm 3 I1 I2 Li 521 7300 1.045 Tuy nhiên, khi bắt đầu nghiên cứu nguồn điện Liti, các nhà nghiên cứu đã gặp nhiều khó khăn do đặc tính hóa học mạnh mẽ của kim loại này. Liti dễ bị oxy hoá trong không khí, phản ứng với nhiều hợp chất vô cơ, hữu cơ, bùng cháy khi gặp nước….
Chính vì vậy các vấn đề đặc thù còn tồn tại với nguồn điện Liti là: • Môi trường điện li phải không có nước.Harris đã tìm ra họ dung môi hữu cơ propylen cacbonat và nó đánh dấu một mốc quan trọng trong sự phát triển của pin Liti sau này. • Vấn đề sử dụng an toàn của vật liệu Liti. • Chọn lựa vật liệu catot thích hợp. • Nguồn điện Liti đòi hỏi công nghệ chế tạo xuất phát từ nguyên lý tích trữ, kết cấu hoàn toàn mới.
Bên cạnh đó, khi vật liệu Liti được đưa vào sử dụng cũng gặp phải những vấn đề làm giảm đi ưu điểm của nguồn điện này: • Các mầm Li đầu tiên xuất hiện khi nạp lại nguồn, thường bị thụ động hóa do phản ứng với dung dịch điện ly tạo thành lớp bề mặt cách điện với anot nền, làm cản trở hoạt động của anot mặc dù màng kết tủa vẫn cho phép dẫn ion qua nó. Công nghệ Điện hóa 2005-2007 LuËn v¨n tèt nghiÖp 7 NguyÔn Ngäc Hng • Trong quá trình làm việc ở một số điều kiện (Ví dụ: dòng điện phóng nạp quá mạnh) lớp bề mặt trở nên xốp, xảy ra phản ứng mãnh liệt giữa mầm Li mới tạo thành và dung môi đồng thời tỏa nhiệt cục bộ. Nhiệt độ có thể lớn hơn nhiệt nóng chảy của Li (180 oC) kèm theo cháy nổ gây nguy hiểm. • Sự nạp lại sẽ làm giảm Li trên bề mặt vật liệu anot do thụ động đặc biệt tới những điểm lõm.
Quá trình kết tủa ưu tiên ở những phần gồ ghề sẽ sinh gai gây chập mạch phá huỷ pin, acqui. Một vấn đề rất được quan tâm trong nguồn điện Liti là hệ dung dịch điện ly. Với các nguồn điện thông thường, hệ điện ly luôn có dung môi là H 2O. Đây là dung môi lý tưởng vì có điện dung cao (ε = 78,4), độ nhớt thấp (η = 0,890 cP) thích hợp với việc hoà tan tốt các chất điện ly và dẫn ion trong dung dịch.
Nhưng với nguồn điện Liti thì môi trường nước buộc phải loại bỏ vì : • Trong nguồn điện Liti không thể có H 2O vì Li kim loại phản ứng với H 2O tỏa nhiệt mạnh gây ra cháy nổ. • Trong nguồn Liti-ion, ta thay anot Li kim loại bằng vật liệu cài anot (Ví dụ Li xC6) thì vật liệu an toàn trong nước nhưng điện thế của vật liệu catot như LiM xOy (M: Mn, Ni, Co) hay V2O 5, V6O13…đều ≥ 3 (V) và lớn hơn điện thế phân huỷ của nước ≈ 1,23 (V). Như vậy, dung môi cho nguồn điện Liti, Liti-ion phải là dung môi phân cực, không phân ly proton, thông số hóa lý càng giống nước càng tốt nghĩa là momen lưỡng cực cao, hằng số điện môi lớn, độ nhớt nhỏ, khối lượng riêng thấp. Các thông số này rất quan trọng vì nó liên quan đến khả năng hoà tan muối dẫn và cải thiện được độ dẫn vốn rất kém của dung môi hữu cơ.
Ngoài ra, các dung môi này phải bền, không phản ứng với vật liệu điện cực, không làm giảm hoạt độ của Li+. Số vận chuyển của Li + trong các dung môi này t+ phải ≈ 1,0. Thực tế, không có dung môi hữu cơ nào có đầy đủ tính chất trên. Các Công nghệ Điện hóa 2005-2007 LuËn v¨n tèt nghiÖp 8 NguyÔn Ngäc Hng dung môi có ý nghĩa thực tiễn và hiện đang được ứng dụng là: Propylen cacbonat (PC), Ethylen cacbonat (EC), Tetra hydro furan (THF), Dymethyl sunfoxid (DMSO).
Tuy vậy việc sử dụng các dung môi hữu cơ vẫn luôn phức tạp, khó khăn, ứng dụng thực tế khó đạt hiệu quả cao. Gần đây trên thế giới, một số nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu về nguồn điện Liti-ion trong hệ điện dịch nước và đã đạt một số kết quả nhất định. Nếu những nghiên cứu này thành công thì sẽ mở ra một con đường mới rộng mở hơn cho nguồn điện Liti ứng dụng vào cuộc sống. Mặc dù còn tồn tại nhiều vấn đề về vật liệu điện cực và điện dịch, tuy nhiên với những tính năng vượt trội của mình thì nguồn điện Liti và Liti-ion vẫn được nghiên cứu phát triển rất mạnh mẽ trong những năm gần đây.
Một số loại nguồn điện Lithium [4, 12] Trong bản luận văn này, tôi xin giới thiệu một số loại nguồn điện Lithium-Manganese. Nguồn điện Lithium-Manganese có thể chia làm 3 loại: - Pin Liti sơ cấp (Lithium Battery Primary). - Acquy Liti thứ cấp (Lithium Battery Secondary). - Acquy Liti-ion (Lithium- ion battery).1 Pin Liti-MnO2 sơ cấp Năm 1975, hãng Sanyo xác định được phản ứng giữa Liti và MnO 2 và đã thành công khi tạo ra nguồn điện Li-MnO2 đầu tiên.
Cơ chế của pin Li-MnO2 là: - Phản ứng anot: Li Li+ + e- - Phản ứng catot: MnO2 + Li+ + e- MnO- 2 (Li+) - Phản ứng tổng: Li + MnO2 MnO-2 (Li+ ) Trong đó MnO -2 (Li+ ) được xác định là hợp chất tạo thành từ sự cài ion Li+ vào mạng MnO2. Công nghệ Điện hóa 2005-2007 LuËn v¨n tèt nghiÖp 9 NguyÔn Ngäc Hng Hình 1. Quá trình cài Li + vào ô mạng MnO2 cho ta thấy quá trình khử Mn4+ về Mn 3+ tại điện cực catot khi phóng điện pin Li-MnO2 và quá trình đi vào ô mạng của Li +. Cấu tạo của pin Liti thế hệ 1 là: (-) Li (hợp kim của Li)/ hệ điện dịch không nước/MnO 2 ⊕ Cơ chế phóng nạp của pin dựa vào quá trình ra, vào ô mạng của ion Li + hay còn gọi là quá trình cài và khử cài của ion Li + vào mạng cấu trúc của MnO2.
Người ta còn gọi cơ chế này cơ chế xích đu (rocking chair). Trong pin Li/MnO 2 các hợp chất LiClO4 ; LiCF3CO3 được sử dụng rộng rãi với vai trò chất điện ly hoà tan, với các hệ dung môi chính là propylen cacbonat (PC) và 1,2-dimethoxyethane (DME). Hệ điện ly PC-DME-LiClO4 cho ta độ dẫn cao (≥ 10-2 Ω-1.cm-1) và có độ nhớt khá thấp (≤ 3 cP). Những yêu cầu đối với MnO 2 hoạt tính trong hệ pin Li/MnO2 là: * Không có chứa nước.
* Phải có cấu trúc ô mạng phù hợp để ion Li + khuếch tán vào ô mạng. Trong pin Li/MnO2, chiều phản ứng catot (chiều cài ion) là quan trọng. Công nghệ Điện hóa 2005-2007 LuËn v¨n tèt nghiÖp 10 NguyÔn Ngäc Hng Hình 2. Đường cong phóng điện của pin Li/MnO2 trong môi trường điện ly PC/LiClO 4 1: Li 2:MnO2 Từ đường cong phóng điện cho ta thấy quá trình phóng điện anot gần như không bị ức chế còn quá trình catot bị giới hạn bởi hiệu ứng cài Li + vào khung rắn của MnO2.
Quá trình anot: Li Li+ + 1e Nghiên cứu phổ tổng trở cho thấy bề mặt của anot Li trong quá trình làm việc được phủ một lớp điện ly rắn (thường gồm sản phẩm phân huỷ của muối dẫnvà dung môi như LiCO 3, LiCl, LiOH.), lớp phủ này có tính dẫn ion nên không ảnh hưởng đến quá trình hòa tan anot. Còn quá trình khử catot điển hình cho quá trình cài Li + vào cấu trúc chủ của vật liệu catot: xLi+ + MnO2 + xe- → LixMnO2 Trong trường hợp làm việc của pin người ta chỉ quan tâm đến quá trình cài ion chứ không quan tâm đến chiều ngược lại là khử cài. Chiều cài tương ứng với phóng điện catot. Công nghệ Điện hóa 2005-2007 LuËn v¨n tèt nghiÖp 11 NguyÔn Ngäc Hng 1.
Pin Li/MnO2 thứ cấp Sau nhiều nghiên cứu về nguồn Li/MnO2 các nhà nghiên cứu thấy rằng khi Li+ đi vào trong mạng tinh thể MnO2 sẽ làm thay đổi cấu trúc mạng. Đồng thời họ cũng thấy rằng nếu MnO2 chứa một lượng nhỏ Li trong cấu trúc của nó thì tính đối xứng của cấu trúc mạng tinh thể sẽ được cải thiện. Để so sánh đặc tính nạp lại của Li-λMnO2 với hai dạng vật liệu MnO2 có chứa Li, vật liệu spinel LiMn 2 O4 và vật liệu composit CDMO (được chuẩn bị bằng cách nung hỗn hợp LiCO3 và MnO 2 ) đã được sử dụng. Các phép đo đường cong phóng nạp được tiến hành với γ/ MnO 2; LiMn2 O4 và CDMO với điện cực đối là hợp kim Li-Al, điện dịch LiClO 41M trong hệ dung môi VPC/DME.
Qua nghiên cứu cho thấy là vật liệu spinel LiMn2 O4 và composit CDMO có dung lượng ổn định với số chu kì phóng nạp lớn, đặc tính phóng nạp tốt hơn MnO2 nhiều lần. Từ đó hàng loạt các nghiên cứu về các vật liệu cài Li của MnO 2 được tiến hành nhằm tìm ra dạng vật liệu cài để làm điện cực catot trong acqui Li/LiMn 2O 4 đạt hiệu quả cao. Ngoài ra để tăng các đặc tính tốt của acqui Li/MnO 2 thế hệ 2, ngoài việc tạo ra vật liệu MnO2 có chứa Li, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu đưa vào một số nguyên tử khác. Ví dụ: hệ LixTiMnO 4 , hệ LixMn1,5 Ni0,5O4 ….