chương I trình bày tổng quan tài liệu (19 trang); chương 2 trình bày đối tượng. và phương pháp nghiên cứu (13 trang), chương 3 trình bày về kết quả nghiên cứu và biện luận (40 trang); kết luận và kiến nghị; tài liệu tham khảo. CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. SƠ LƯỢC ĐẶC DIEM SINH HQC CAY HO TIÊU 1.
Nguồn gốc và phân loại a. Nguồn gốc cây hồ tiêu Cây hồ tiêu có nguồn gốc từ vùng Tây Ghats, Án Độ. Người Hy Lạp gọi là Piperi, các nước nói tiếng La tỉnh gọi là Piper và người Anh gọi là Pepper tắt cả những tên này đều có nguồn gốc từ Sanskrit người dân bản xứ gọi nó là Pippal. Hiện nay, cây hồ tiêu được phát triển rộng khắp trong các vùng nhiệt đới, các nước sản xuất tiêu chính là Án Độ, Malaysia, Indonesia và Việt Nam [9] Ở Tiên Phước, hồ tiêu được trồng từ rất lâu và phát triển mạnh nhất vào.
khoảng năm 1985 — 1987, thời gian này hạt hồ tiêu khô được xuất bán rộng khắp thị trường trong và ngoài nước nhờ chất lượng, giá trị của hạt tiêu rất cao ngang bằng với hạt tiêu Lam - Pông và Ma - Tơ của Indonesia nỗi tiếng trên thị trường thế giới. Về chất lượng hồ tiêu có vị cay, nồng rất thơm và giá hồ tiêu cao hơn các loại tiêu khác ở Quảng Trị, Tây Nguyên từ 1 - 1,5 lần. Vì vậy, hồ tiêu Tiên Phước đã trở thành sản phẩm đặc sản của Quảng Nam và loại nông sản được xuất khâu sang các nước châu Á và châu Âu [20]. Phân loại Cây hồ tiêu có tên khoa học là Piper nigrưm L.
thuộc: Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Piperrales Ho: Piperaceae Chi: Piper Loai: Piper nigrum Cây hé tiéu: Piper nigrum L. là một chỉ lớn có hơn 1000 loài hầu hết là cây dược liệu thân thảo, thân leo hoặc thân bụi mọc bám vào các cây khác [20] 1. Điều kiện sinh thái cây hồ tiêu a. Đất đai Hồ tiêu có thê trồng ở nhiều loại đất khác nhau: đất đỏ Bazan, đất sét pha.
cát, phù sa bồi, đất xám. nhưng tốt nhất là đất đỏ hoặc phù sa mới bồi, thoát nước tốt. Đắt có độ thoát nước tốt đặc biệt không ngập úng, mực nước ngầm sâu trên Im, đất giàu mùn trên 2%, tơi xốp, thành phần cơ giới đất từ nhẹ đến trung bình, giàu dinh dưỡng, pH dat: 5,5 — 6,5. b, Nhiệt độ Nhiệt độ thích hợp bình quân cả năm từ 25 - 300C, nhiệt độ dưới 15°C và trên 40°C tiêu không phát triển được.
Độ ẩm Độ ẩm thích hợp trung bình 75 - 90%, độ âm cao làm cho hạt phấn dễ dính vào núm nhụy và thời gian thụ phần kéo dài do núm nhụy trương to, tao điều kiện cho sụ hình thành quả tốt hơn. Lugng mua Cây hồ tiêu phát triển tốt trong điều kiện có lượng mưa trung bình từ 2000 — 2500 mm/năm, phân bó đều trong 7 đến § tháng. Cây hồ tiêu cần có mùa khô rõ rệt khoảng 3 đến 4 tháng để quả chín tập trung. Hồ tiêu không thích hợp với mưa lớn và đọng nước ở vùng rễ [20].
Ánh sáng Cây hồ tiêu là cây ưa sáng, nhất là trong thời kỳ cho quả. Tuy nhiên cần che bóng khi thời tiết nắng gắt. Địa hình Hồ tiêu chỉ thích hợp ở độ cao dưới 800m, càng lên cao nhiệt độ càng. thấp làm hồ tiêu kém phát triển.
Ở miền Nam, hiện nay có những vùng trồng. hồ tiêu đến độ cao 900m nhưng bắt buộc nhiệt độ trên 15°C [20],[21] 1. Đặc điểm sinh học và tình hình sản xuất hồ tiêu Tiên Phước a. Đặc điểm sinh học cây hỗ tiêu Tiên Phước Hồ tiêu là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao của Tiên Phước.
Đặc điểm của cây hồ tiêu: thân dây, được trồng quanh hồ (tự tạo) hoặc cọc (choái) bám. vào cây tự nhiên, độ cao từ 3—10 m là có thể cho hạt Đất trồng thích hợp phải cao, thoáng. Hồ tiêu cần choái để tạo điều kiện cho cây leo bám dễ dàng, cần chọn những cây có da nhám, giữ được chất nước ở vỏ và đặc biệt nhất là phải ít rễ để không ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của cây hồ tiêu. Giống hồ tiêu: người ta thường trồng bằng ngọn hoặc trồng bằng "lươn" tức là những cây con nức tược dưới gốc.
Thời vụ trồng hồ tiêu thường vào. đầu mùa mưa và thuận lợi nhất là vào khoảng 20 tháng 7 âm lịch. Hồ tiêu Tiên Phước có hai loại: tiêu sẻ lá nhỏ, thơm ngon; tiêu bộp lá to, hạt to nhưng ít thơm hơn. Giá trị hồ tiêu Tiên Phước rất cao nhờ chất lượng và giá trị thương mại hơn hẳn so với các loại hồ tiêu khác [28].
Sơ lược tình hình sản xuất hỗ tiêu của huyện Tiên Phước Trong hai thập kỷ 1980 — 2000, cây hồ tiêu phát triển mạnh trên địa ban huyện, tổng diện tích đã lên trên 300 ha, sản lượng hàng năm 200 - 400 tắn. Tuy nhiên từ sau năm 2000, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan như giá cả thị trường, thời tiết, khí hậu, dịch bệnh (chủ yếu là bệnh do tuyến trùng và vi sinh vật gây ra) đồng thời với việc thiếu sự đầu tư chăm sóc của người dân làm cho nhiều diện tích cây hồ tiêu bị nhiễm bệnh, chết và ngày một giảm dần Theo thống kê, cho đến nay mỗi năm huyện Tiên Phước sản xuất gần 40 tấn hồ tiêu hạt, đã mang lại nguồn lợi từ tiêu hạt không phải là nhỏ và cây hồ tiêu thực sự được xem là “cây xóa nghèo” cho bà con nông dân. Nhằm khuyến khích phát triển lại cây hồ tiêu, huyện Tiên Phước đã có nhiều giải pháp, gần đây nhất là “Đề án khôi phục và phát triển lại đặc sản hỗ tiêu Tiên Phước”. Theo đó, huyện sẽ hỗ trợ 20% vốn đầu tư ban đầu nếu như người dân trồng giống hồ tiêu Tiên Phước [28] 1⁄2.
TỎNG QUAN VÈ TÌNH HÌNH MỘT SÓ VI NÁM CHÍNH GÂY HAI TREN CAY HO TIEU Sâu bệnh gây hại trên cây hồ tiêu ở Việt Nam được ghi nhận từ những năm đầu thế kỷ 20, diện tích trồng hồ tiêu (tính bằng số lượng trụ hồ tiêu) ở Hà Tiên, Phú Quốc, Rạch Giá và Bà Rịa từ 930.000 trụ vào năm 1910 giảm xuống còn khoảng 540.000 trụ vào năm 1927 do bệnh thối gốc cây hồ tiêu. Công trình nghiên cứu của Barat (1952) tập trung nhiều vào biện pháp canh tác, dù vậy ông đã tìm thấy một số loài nam bénh nhu Phytophthora sp., Pythium complectens, Fusarium solani var. minus, Botryodiplodia theobromae, Gloeosporium sp., va một số côn trùng hại như Tricentrus subangulatus (Homoptera: Membracidae), các loài rệp sáp va rep sáp gia, bao gdm Pseudococcus citri, Ferrisia virgata, Planococcus citri va Lophobaris piper. Thành phân các loài gây hại được bổ sung thêm với 10 loài tuyến trùng.
theo công trình nghiên cứu của Phạm Văn Biên (1989). Theo nhận xét của Vũ Triệu Mân (2000) [17], bệnh hại hồ tiêu có xu hướng gia tăng và ngày càng. trở nên nghiêm trọng hơn ở các vùng trồng hỗ tiêu trong cả nước. Người sản xuất mong đợi những giải pháp phòng trừ có hiệu quả nhưng các phương pháp phòng trừ mới ít được phổ biến và ngày càng có nhiều vườn tiêu bị hại nặng do sâu bệnh.
Theo Nguyễn Tăng Tôn và etv.(2005) [22] cho biết thành phần của các loài sâu bệnh hại trên cây hồ tiêu ở nước ta tương tự như ở các. vùng trồng tiêu chính trên thế giới được mô tả trong các công trình của Gumbek (2002) [40]; Kularatne (2002) [43]: Manohara and Rizal (2002) [44] Theo Ngô Vĩnh Viễn và ctv., (2007) [30] trên hồ tiêu có ba nhóm dịch hại ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất hồ tiêu và cần được quan tâm nghiên cứu giải quyết là: bệnh chết nhanh, bệnh chết chậm, bệnh virus. rằng bệnh chết nhanh là nguyên nhân gây suy thoái vườn tiêu của nhiều địa phương như Cam Lộ, Quảng Trị; Chư Sê, Gia Lai; Xuân Lộc, Đồng Nai; Phú Quốc, Kiên Giang. Về nguyên nhân gây bệnh chết nhanh, tác giả cho rằng do hai nhóm nắm PÖy/opthora sp.
và Pythium sp. gây ra bao gồm P. cinnamomi và Pythium sp. Bệnh chết chậm do tác động cộng hưởng của nhiều tác nhân như: tuyến trùng, nắm #sarium Sp.
rệp sáp và mối. Theo đánh giá mới đây nhất của Cục Bảo vệ Thực vật (2007) [7], trên cây hồ tiêu có 17 loại bệnh gây hại, trong đó bệnh: thán thư, cháy đen lá, mốc. hồng, tuyến trùng, virus, chết nhanh, chết chậm gây hại nặng và khá phổ biến ở nhiều vùng. Các bệnh khác như nắm mạng nhện, tảo đỏ, rụng gié, chết thân, 10 thối rễ do vi khuẩn, khô vằn là những bệnh tuy có xuất hiện nhưng tác hại không lớn.
Nhìn chung, sâu bệnh hại trên cây hồ tiêu là quần thẻ không phong phú lắm, nhưng mức độ nghiêm trọng do chúng gây nên là rất lớn, đặc biệt là nhóm sâu bệnh hại trong đất nhu nam Phytophthora sp., tuyén tring va rép sáp. Hàng năm bệnh hại thường xuất hiện khá phổ biến, chủ yếu vào giai đoạn giữa và cuối mùa mưa gây thiệt hại rất lớn cho người trồng hồ tiêu. Nhiều nhà khoa học, nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu tác nhân gây hại và xây dựng các biện pháp phòng trừ, tuy nhiên trong thực tế các vườn hồ tiêu bị nhiễm bệnh và tỷ lệ cây chết vẫn không giảm [29] 1. Bệnh chết nhanh trên cây hồ tiêu Bệnh chết nhanh được ghi nhận đầu tiên ở Kampong Pempen tại Lampung (Sumatera Island), Indonesia năm 1885.
Sau d6, lan rong đến Kamong Negara Agoeng, Goenoeng Sugih Ketjil, Djabung va Negara Batin (Rutgers, 1915). Ở Án Độ, bệnh phát hiện đầu tiên năm 1902 ở vùng Wynad, kế là Madras. In Sarma et al., (1991) ghi nhan bénh do Phytophthora sp. 6 Kerala, Karmataka va Tamilnadu.
Dịch bệnh được ghi nhận tại Palembang nam 1918, triệu chứng ban đầu quan sát được là lá rụng và cây chết ngay. Triệu chứng tương tự được ghi nhận tại Aceh nam 1929 (Muller, 1936), ving phia Nam va Déng Kalimantan năm 1930, phía Tây Java năm 1931 và Central Java năm 1933 (Soepartono, 1953). Ở Malaysia, bệnh được ghi nhận đầu tiên là “chết nhanh” 6 Sri Aman Divsion, Sarawak. Năm 1940, dịch bệnh bùng phát ở Kuching và Samarahan Division, được xác định như là bệnh hại rễ mới.
Bệnh cây phát sinh hàng loạt, " bắt đầu năm 1953, phá hủy khoảng 50% vườn tiêu ở Kuehing-Seria. Dịch bệnh là nguyên nhân gây mắt 7.000 tần tiêu, ước tính khoảng 1,7 triệu USD. Năm 1957, Holiday và Mowat, (1957, 1963) tìm thấy triệu chứng tương tự ở những vườn trồng tiêu của Sarawak., Ngày nay, bệnh chết nhanh được tìm thấy ở hầu hết các vườn tiêu của Indonesia. Tại Việt Nam, cũng có nhiều ý kiến khác nhau về tác nhân gây bệnh chết nhanh trên cây hỗ tiêu.