Đặt vấn đề Rừng được xem là "lá phổi" của trái đất, rừng có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh chúng ta. Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một yêu cầu, nhiệm vụ không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Đó là một thách thức vô cùng to lớn đòi hỏi mỗi cá nhân, tổ chức thuộc các cấp trong một quốc gia và trên thế giới nhận thức được vai trò và nhiệm vụ của mình trong công tác phục hồi và phát triển rừng. Hầu hết rừng tự nhiên của Việt Nam đều bị tác động, sự tác động theo hai hướng chính đó, là chặt chọn (chặt cây đáp ứng yêu cầu sử dụng).
Đây là lối khai thác hoàn toàn tự do, phổ biến ở các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống (lấy gỗ về làm nhà, làm củi…). Cách thứ hai là khai thác trắng như:Phá rừng làm nương rẫy, khai thác trồng cây công nghiệp, phá rừng tự nhiên trồng rừng công nghiệp…). Trong hai cách này, cách thứ nhất rừng vẫn còn tính chất đất rừng, kết cấu rừng bị phá vỡ, rừng nghèo kiệt về trữ lượng và chất lượng, nhưng vẫn còn khả năng phục hồi. Với cách khai thác thứ hai, rừng hoàn toàn bị mất trắng, khó có khả năng phục hồi.
Vai trò của rừng là rất to lớn, thế nhưng trong những năm vừa qua diện tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất lượng. Xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên là một trong những Xã gần với, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên là một trong những vùng thuộc khu VQG Tam Đảo tiếp giáp với đỉnh cao nhất của dãy núi này (1590 m). Đây cũng là xã ngã ba ranh giới giữa ba tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc và Tuyên Quang. Xã Hoàng Nông giáp với xã La Bằng ở phía Tây bắc, Bản 2 Ngoại và Tiên Hội ở phía Đông bắc, xã Khôi Kỳ ở phía Đông, Mỹ Yên ở phía Đông nam và ở phía Tây nam, qua dãy Tam Đảo là xã Đạo Trù thuộc huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc và xã Sơn Dương của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Hiện nay trên địa bàn, diện tích rừng tự nhiên đã bị suy giảm do người dân đốt rừng để sản xuất các loại cây trồng khác làm cho trữ lượng rừng đã bị giảm mạnh. Tuy số lượng rừng trồng đã được tăng lên và cây trồng chủ yếu là cây Keo và Bạch đàn nhưng trữ lượng rừng vẫn không tăng đáng kể. Chính vì vậy cần có những giải pháp thích hợp nhằm phục hồi lại rừng, để rừng có thể phát huy tối đa những vai trò của nó, đảm bảo được lợi ích về mặt sinh thái môi trường và kinh tế cho người dân sống quanh khu vực. Để làm được điều này thì chúng ta phải hiểu biết đầy đủ những quy luật phát triển của hệ sinh thái rừng.
Do đó cấu trúc rừng được xem là cơ sở quan trọng nhất giúp các nhà lâm nghiệp có thể chủ động trong việc xác lập các kế hoạch và biện pháp kỹ thuật tác động chính xác vào rừng để quản lý, kinh doanh rừng được lâu bền hơn. Trước thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm học và phân bố tự nhiên cây Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” làm cơ sở khoa học cho việc phát triển cây xoan đào tại xã Hoàng Nông. Mục đích nghiên cứu - Đặc điểm lâm học của cây Xoan đào tại xã Hoàng, huyện Đại Từ, tỉnh, Thái Nguyên. Mục tiêu của đề tài - Xác định một số đặc điểm cấu trúc của loài Xoan đào tại xã Hoàng Nông - Xác định một số đặc điểm tái sinh của loài Xoan đào.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển loài Xoan đào. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp cho sinh viên cố, hệ thống lại kiến thức đã học vận dụng vào thực tiến sản xuất. - Tạo nền tảng kiến thức, kinh nghiệm cho sinh viên trong công việc tương lai.
- Giúp sinh viên nắm được cấu trúc và phương pháp của một đề tài nghiên cứu khoa học. Ý nghĩa thực tiến sản xuất - Việc nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về khả năng sinh trưởng và phát triển của cây xoan đào và có cơ sở đề ra những biện pháp lâm sinh như khoanh nuôi phát triển cây xoan đào. - Việc nghiên cứu khoa học của sinh viên còn giúp các cán bộ địa phương nắm bắt được hiện trạng rừng nới công tác một cách khách quan để có biện pháp và hướng đi trong việc phục hồi và làm giàu rừng. 4 Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae) là loài cây bản địa đa tác dụng có giá trị kinh tế cao, sinh trưởng nhanh. Ở Việt Nam, loài cây này đươ ̣c phân b ố mô ̣t số ít ở vùng núi phía B ắc… và một số khác ở Tây Nguyên. Trong những năm gần đây Xoan đào bị khai thác cạn kiệt nên được liệt kê vào sách đỏ Việt Nam. Gỗ Xoan đào được dùng làm ván lạng, ván bóc và các đồ nội thất gia đình như cửa gỗ, bàn ghế, tủ bếp… Đặc biệt, hiện nay gỗ xoan đào được dùng làm ván lót sàn, kệ bếp, đồ nội thất cao cấp, loại gỗ này đang rất được ưa chuộng trên thị trường.
Gỗ xoan đào đang trở thành xu hướng và sự lựa chọn của rất nhiều gia đình… Vì nó có vân gỗ đỏ, màu gỗ rất sang trọng. Trong điều kiện tự nhiên, cây có thể cao tới 40m, đường kính ngang ngực đạt 75cm thân cây hình trụ, thẳng, vỏ mỏng, nhẵn màu xám bạc [14]. Ở nước ta có một số hoạt động nghiên cứu về cây Xoan cũng như họ Hoa hồng (Rosaceae), đã đạt được nhiều kết quả ban đầu như nghiên cứu thành phần hoá học của thân cây Mâm xôi (Rubus alceaefolius Poir.) họ Rosaceae ở Yên Sơn - Tuyên Quang của Đỗ Thị Ngọc Thủy (2012), cho thấy đã thu thập được mẫu nghiên cứu cây Mâm xôi tại Tuyên Quang và xác định tên khoa học của nó là Rubus alceaefolius Poir. Kết quả phân tích định tính cây Rubus alceaefolius cho biết trong cây Mâm xôi có các lớp chất sterol, flavonoit, cumarin, glucosit trợ tim và saponin.
Từ dịch chiết metanol của thân cây Mâm xôi (Rubus alceaefolius) bằng phương pháp sắc ký cột, kết hợp với phương pháp tinh chế kết tinh lại, bảy hợp chất β-sitosterol (MXH1), β- sitosterol-3-O-β-D-glucopyranosit (MXE1), axit ursolic (MXH6), axit euscaphic (MXH14), suavissimoside R1 (MXE18), trachelosperoside A1 5 (MXE21) và 8-methoxy-4H-chromen-4-one (MXE2), đã được phân lập và nhận dạng. Trong số sáu hợp chất thu được, ba hợp chất suavissimoside R1 (MXE18), trachelosperoside A1 (MXE21) và 8-methoxy-4H-chromen-4-one (MXE2) được phát hiện lần đầu tiên từ loài Rubus alceaefolius Poir [5]. Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật xây dựng mô hình trồng rừng gỗ lớn bằng các loài cây bản địa vùng trung tâm Bắc bộ của Nguyễn Thị Nhung và cộng sự thuộc trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Lâm sinh Cầu Hai.Các loài cây Dẻ đỏ, Sồi phảng, Xoan đào, Re gừng sinh trưởng nhanh và ổn định. Cây Kháo vàng sinh trưởng chậm hơn 4 loài trên nhưng cũng là loài sinh trưởng nhanh và tương đối ổn định.
Đề tài đã xây dựng được hướng dẫn kỹ thuật gây trồng 5 loài cây. Các loài cây này có thể đầu tư để tập huấn kỹ thuật và xây dựng mô hình trình diễn và phát triển trên diện rộng trong sản xuất gỗ lớn [4]. Kết quả nghiên cứu và sử dụng một số loài thực vật thuộc họ xoan (Meliaece) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải vụ đông xuân chính vụ năm 2010 tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên của Nguyễn Thị Lan Hương (2011) cho thấy, các loài sâu hại xuất hiện và gây hại trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây bắp cải. Trong các loài sâu hại rau bắp cải vụ Đông Xuân chính vụ năm 2010, mật độ rệp đạt cao nhất, với mật độ trung bình là 133,83 con/m2; tiếp đến là mật độ bọ nhảy đạt 83,0 con/m2; mật độ trung bình của sâu tơ là 71,04 con/m2; mật độ trung bình của sâu xanh 68 con/m2 và thấp nhất là mật độ trung bình của sâu khoang 63,08 con/m2.
Dung dịch ngâm quả xoan và dung dịch ngâm lá xà cừ có tác dụng xua đuổi nhanh và mạnh đối với tất cả các loài sâu chính hại bắp cải. Trong đó, hiệu lực xua đuổi của dung dịch ngâm quả xoan nhanh nhất đối với bọ nhảy (đạt 100% sau xử lý 7h); tiếp đến đối với rệp (đạt 90,0 - 100% sau xử lý 7h và đạt 100% sau xử lý 9h); hiệu 6 lực xua đuổi sâu tơ (đạt 100,0% sau xử lý 9h) và chậm hơn đối với sâu xanh và sâu khoang (đạt 98,0 - 100% sau xử lý 11h). Hiệu lực tiêu diệt của dung dịch ngâm quả xoan Neem có hiệu lực tiêu diệt nhanh và mạnh đối với tất cả các loài sâu chính hại rau bắp cải; còn hiệu lực tiêu diệt của dung dịch ngâm lá xà cừ có tác dụng tiêu diệt nhanh và mạnh đối với sâu xanh, sâu tơ, sâu khoang và rệp; nhưng có hiệu lực tiêu diệt thấp & chậm đối với bọ nhảy [2]. Bên cạnh các đề tài nghiên cứu về họ Hoa hồng các đề tài đang được nghiên cứu sâu thêm về lài cây xoan từ nhân giống cho đến thực nghiệm tại hiện trường: Một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu trong sản xuất giống cây Xoan ta (Melia azedarach) tại vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên của Lường Văn Thương (2014), đã cho thấy.
Xử lý kích thích hạt nảy mầm: Công thức 400C Sau khi kích thích hạt nảy mầm, 10 ngày sau khi mới bắt đầu nảy mầm, 20 ngày kết thúc qua trình nảy mầm. Sinh trưởng chiều cao trung bình (Hvn) của cây Xoan ta ở các công thức: CT1 (ĐC) có X 1 = 4.37 (cm) CT2 (3% Phân vi sinh hoai mục) có X 2 = 11,08 (cm) CT3 (5% Phân vi sinh hoai mục) có X 3 = 11,20 (cm) CT4 (7% Phân vi sinh hoai mục) có X 4 = 10,74 (cm) Kiểm tra bảng phân tích phương sai 1 nhân tố cho thấy FA(Hvn) = 906,50 > F05(Hvn) =4,07(m) Vậy nhân tố A (CTTN) tác động không đồng đều đến chiều cao của cây Xoan ta, do đó công thức hỗ hợp ruột bầu 3 có ảnh hưởng sinh trưởng chiều cao của cây Xoan ta ở giai đoạn vườn ươm là tốt nhất. Ta thấy sự tăng trưởng giữa các công thức ảnh hưởng ruột bầu có sự chênh lệch nhau không đáng kể.