Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Tài nguyên rừng giữ vai trò cốt lõi trong việc duy trì cân bằng sinh thái và bảo tồn tính đa dạng sinh học toàn cầu. Tại Việt Nam, phần lớn diện tích rừng tự nhiên đã và đang chịu tác động tiêu cực qua hai phương thức chính: khai thác chọn tự do (phổ biến ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số để lấy gỗ làm nhà, củi đốt, khiến rừng bị suy giảm cấu trúc và nghèo kiệt trữ lượng nhưng vẫn giữ được tính chất đất rừng và có khả năng phục hồi) và khai thác trắng (chuyển đổi đất rừng làm nương rẫy, trồng cây công nghiệp hoặc cây lâm nghiệp ngắn ngày, khiến rừng mất hoàn toàn kết cấu tự nhiên và khó phục hồi).
Xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên nằm tiếp giáp với sườn phía Đông Bắc dãy Tam Đảo (đỉnh cao nhất 1.590 m) và thuộc vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo, là ngã ba ranh giới giữa ba tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc và Tuyên Quang. Tại khu vực này, diện tích rừng tự nhiên suy giảm mạnh do tập quán canh tác đốt nương làm rẫy. Dù diện tích rừng trồng các loài cây mọc nhanh như Keo và Bạch đàn có xu hướng gia tăng, trữ lượng và giá trị phòng hộ sinh thái của hệ sinh thái rừng tự nhiên vẫn không được cải thiện tương xứng. Để phục hồi rừng hiệu quả, việc nghiên cứu các quy luật phát triển và đặc điểm cấu trúc lâm phần của các loài cây bản địa có giá trị kinh tế và sinh thái cao là yêu cầu cấp thiết.
Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae) là loài cây gỗ lớn bản địa đa tác dụng, sinh trưởng nhanh, cung cấp gỗ quý phục vụ sản xuất đồ nội thất, ván lạng, ván lót sàn cao cấp. Do bị khai thác quá mức trong tự nhiên, loài cây này đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Nghiên cứu đặc điểm lâm học và phân bố tự nhiên cây Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên" được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và phát triển loài cây này tại địa phương.
Mục đích và mục tiêu nghiên cứu:
- Mục đích: Xác định đặc điểm lâm học của cây Xoan đào tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên làm cơ sở khoa học cho việc phát triển loài cây này.
- Mục tiêu nghiên cứu:
- Xác định một số đặc điểm cấu trúc của loài Xoan đào tại xã Hoàng Nông.
- Xác định một số đặc điểm tái sinh của loài Xoan đào.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển loài Xoan đào.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cây Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) mọc tự nhiên trong các trạng thái rừng phục hồi.
- Phạm vi không gian: Các trạng thái rừng thứ sinh phục hồi trên địa bàn xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thực địa được thu thập từ tháng 02/2016 đến tháng 06/2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng quan điểm sinh thái phát sinh quần thể trong thảm thực vật rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978), coi thảm thực vật rừng là sự phản ánh tổng hợp điều kiện hoàn cảnh tự nhiên và các nhân tố sinh thái tác động đến quá trình phục hồi rừng thứ sinh.
Khung lý thuyết và tiêu chuẩn phân loại
- Phân loại trạng thái rừng: Áp dụng hệ thống phân loại thảm thực vật của Loeschau, tập trung xác định các trạng thái rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy hoặc sau khai thác (chủ yếu là trạng thái rừng IIA: rừng phục hồi còn non, gồm các loài cây tiên phong ưa sáng, đường kính $D_{1.3} \le 10\text{ cm}$ hoặc $D_{1.3} \ge 10\text{ cm}$ với tổng tiết diện ngang $\sum G > 10\text{ m}^2/\text{ha}$).
- Cấu trúc tầng thứ: Sử dụng phương pháp quan trắc đồ đứng Richards và Davis theo hướng dẫn của Thái Văn Trừng (1993) để chia không gian thẳng đứng thành 3 tầng tán: Tầng A1 (tầng vượt tán, chiều cao $\ge 20\text{ m}$), Tầng A2 (tầng tán chính của rừng), Tầng A3 (tầng dưới tán, chịu bóng, chiều cao từ $5 - 12\text{ m}$).
- Đánh giá cấp độ dầy rậm thảm tươi: Sử dụng thang cấp độ nhiều thực bì bao gồm các cấp: Soc (che phủ $75 - 100%$), Cop1 ($50 - 75%$), Cop2 ($25 - 50%$), Cop3 ($5 - 25%$), Sp (dưới $5%$), Sol (mọc rải rác), Un (cá biệt), Gr (mọc từng khóm).
Phương pháp thu thập dữ liệu thực địa
Hệ thống mẫu điều tra được bố trí theo phương pháp thực nghiệm sinh thái bằng hệ thống ô tiêu chuẩn (OTC) tạm thời và bán định vị đại diện cho 3 dạng địa hình (Chân núi, Sườn núi, Đỉnh núi):
- Tầng cây gỗ: Thiết lập 9 ô tiêu chuẩn kích thước $1.000\text{ m}^2$ ($0,1\text{ ha}$) (mỗi vị trí Chân, Sườn, Đỉnh đặt 3 OTC). Tiến hành đo đếm toàn bộ các cây gỗ có đường kính ngang ngực $D_{1.3} \ge 6\text{ cm}$, ghi nhận các chỉ tiêu: loài cây, đường kính $D_{1.3}$ (thước dây), chiều cao vút ngọn $H_{vn}$ và chiều cao dưới cành $H_{dc}$ (thước sào chia vạch $20\text{ cm}$, sai số $\pm 10\text{ cm}$), đường kính tán lá $D_t$ (hai hướng Đông - Tây và Nam - Bắc), phẩm chất cây (Tốt, Trung bình, Xấu).
- Tầng cây tái sinh: Trên mỗi OTC thiết lập 5 ô dạng bản (ODB) kích thước $5 \times 5\text{ m}$ ($25\text{ m}^2$) (4 ô ở 4 góc và 1 ô ở trung tâm OTC), tổng cộng 45 ODB cho 9 OTC. Ngoài ra, thiết lập 8 ODB/cây trội ($25\text{ m}^2$/ô, gồm 4 ô trong tán và 4 ô ngoài tán cây mẹ) để đánh giá khả năng phát tán hạt. Thu thập tên loài, nguồn gốc tái sinh (chồi hoặc hạt), phẩm chất sinh trưởng (Tốt, Trung bình, Xấu), độ tàn che và phân loại theo 8 cấp chiều cao: Cấp I ($< 0,3\text{ m}$), Cấp II ($0,3 - 0,5\text{ m}$), Cấp III ($0,5 - 1,0\text{ m}$), Cấp IV ($1,0 - 1,5\text{ m}$), Cấp V ($1,5 - 2,0\text{ m}$), Cấp VI ($2,0 - 2,5\text{ m}$), Cấp VII ($2,5 - 3,0\text{ m}$), Cấp VIII ($> 3,0\text{ m}$).
- Thảm tươi và cây bụi: Đo độ che phủ (% mặt đất) theo 2 đường chéo của ô dạng bản $25\text{ m}^2$, định danh thành phần loài và đo chiều cao cây bụi.
- Thổ nhưỡng: Đào và mô tả 3 phẫu diện đất điển hình ($1,2 \times 0,8 \times 1,0\text{ m}$) ở 3 vị trí Chân, Sườn, Đỉnh theo hướng dẫn trong "Sổ tay điều tra quy hoạch rừng" (1995), xác định độ dày tầng đất, màu sắc, độ chặt, thành phần cơ giới và tỷ lệ đá lẫn.
Phương pháp tính toán và xử lý số liệu
- Chỉ số quan trọng (IV%) tầng cây gỗ: Tính theo công thức của Curtis (1959):
$$IV_i% = \frac{N_i% + G_i%}{2}$$
(Trong đó $N_i%$ là tỷ lệ phần trăm số cá thể, $G_i%$ là tỷ lệ phần trăm tiết diện ngang của loài $i$ so với lâm phần. Loài có $IV% > 5%$ được xác định là loài tham gia công thức tổ thành sinh thái).
- Chỉ số đa dạng sinh học:
- Chỉ số đa dạng Simpson ($D$):
$$D = 1 - \sum_{i=1}^{S} \frac{n_i(n_i - 1)}{N(N - 1)}$$
- Chỉ số Shannon-Wiener ($H'$):
$$H' = -\sum_{i=1}^{S} \left(\frac{n_i}{N}\right) \ln\left(\frac{n_i}{N}\right)$$
- Tổ thành tầng cây tái sinh: Xác định hệ số tổ thành $K_i$:
$$K_i = \frac{n_i}{N} \times 10$$
(Loài có tỷ lệ $n% \ge 5%$ được đưa vào công thức tổ thành tái sinh).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày cơ sở lý luận về vai trò của tài nguyên rừng nhiệt đới, thực trạng suy giảm diện tích rừng tự nhiên do áp lực chặt chọn và phá rừng làm nương rẫy tại Việt Nam nói chung và khu vực xã Hoàng Nông nói riêng. Xác định rõ mục đích, 3 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong công tác quản lý bảo vệ rừng và phục hồi loài Xoan đào bản địa.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
- Tình hình nghiên cứu trong nước: Tổng hợp các nghiên cứu về thành phần hóa học họ Hoa hồng (Đỗ Thị Ngọc Thủy, 2012 đối với loài Rubus alceaefolius Poir.), mô hình trồng rừng gỗ lớn bằng cây bản địa (Nguyễn Thị Nhung và cộng sự tại Cầu Hai), sử dụng thực vật chiết xuất phòng trừ sâu hại (Nguyễn Thị Lan Hương, 2011), các biện pháp kỹ thuật vườn ươm đối với Xoan ta (Lường Văn Thương, 2014) và nhân giống in vitro cây Xoan đào phục vụ chuyển gen (Nguyễn Thị Tình, 2013). Đồng thời kế thừa kết quả nghiên cứu lâm học của Lê Đình Thăng (2014), Cháng Văn Cường (2014), Nguyễn Hữu Tiến (2014) về các loài cây gỗ quý bản địa.
- Tình hình nghiên cứu trên thế giới: Tổng thuật đánh giá của IUCN và các nhà khoa học về tỷ lệ thực vật bị đe dọa tuyệt chủng; các quy luật phân bố cụm và phân bố Poisson của cây tái sinh rừng nhiệt đới (P. Richards, Bernard Rollet, Bava, Budowski); các công trình nghiên cứu động thái sinh trưởng của cây Xoan đào trong rừng thứ sinh vùng Tây Yên Tử (Vũ Thị Quế Anh, Martin Worbes, Ralph Mitlöhner, 2003) và nghiên cứu sinh trưởng các loài bản địa rừng thoái hóa miền Bắc Việt Nam (Hung Trieu Thai, Don Koo Lee, Su Young Woo, 2010).
- Tổng quan khu vực nghiên cứu: Tổng diện tích tự nhiên xã Hoàng Nông là $2.753,04\text{ ha}$ (đất nông nghiệp chiếm $2.634,93\text{ ha}$, diện tích rừng $1.884,9\text{ ha}$). Khí hậu chia làm 2 mùa (mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 chiếm gần $80%$ lượng mưa; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau), nhiệt độ trung bình năm $22,9^\circ\text{C}$. Dân số có $1.269$ người, kinh tế dựa vào sản xuất nông - lâm nghiệp (chiếm $92,37%$ cơ cấu lao động), cây chè là cây trồng mũi nhọn với $390,14\text{ ha}$.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chi tiết hóa 6 nội dung nghiên cứu: phân loại trạng thái rừng; đặc điểm hình thái và vật hậu học cây Xoan đào; điều kiện khí hậu, đất đai nơi phân bố; cấu trúc tầng cây cao (tổ thành, tầng thứ, mật độ, đa dạng sinh học); cấu trúc tầng cây tái sinh (tổ thành, mật độ, nguồn gốc, chất lượng, phân bố chiều cao); đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh. Quy định cụ thể quy trình lập 9 OTC ($1.000\text{ m}^2$), 45 ODB ($25\text{ m}^2$) và đào 3 phẫu diện đất.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Trình bày hệ thống số liệu điều tra thực nghiệm về trạng thái thảm thực vật, các đặc tính hình thái giải phẫu của thân, cành, lá, nhịp điệu vật hậu 12 tháng, tính chất lý hóa các tầng phát sinh đất feralit, các công thức tổ thành tầng cây cao và tầng cây tái sinh tại 3 vị trí địa hình Chân, Sườn, Đỉnh.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đưa ra 4 kết luận tổng quát về trạng thái rừng, đặc điểm sinh thái, cấu trúc lâm phần, khả năng tái sinh của Xoan đào tại xã Hoàng Nông; đồng thời kiến nghị các giải pháp lâm sinh cụ thể đối với chính quyền địa phương và ngành kiểm lâm nhằm bảo tồn nguồn gen.
Kết quả và đóng góp
1. Phân loại trạng thái rừng và điều kiện sinh thái lập địa
- Trạng thái rừng: Toàn bộ diện tích điều tra tại 3 vị trí địa hình thuộc Trạng thái rừng IIA (rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy, đặc trưng bởi các loài cây tiên phong ưa sáng, mọc nhanh).
- Điều kiện thổ nhưỡng: Đất phát triển tại khu vực là đất feralit có tầng dày biến động từ trung bình đến dày ($0 - 50\text{ cm}$), độ dốc địa hình từ $25 - 35^\circ$, tỷ lệ đá lẫn ít. Màu sắc đất biến chuyển từ nâu xốp ở tầng mặt ($0 - 5\text{ cm}$) sang nâu vàng, vàng đỏ hoặc đỏ vàng ở các tầng sâu; thành phần cơ giới biến đổi từ đất cát, thịt nhẹ (vị trí chân, sườn) đến thịt nặng và đất sét rất chặt (vị trí đỉnh).
| Vị trí địa hình |
Độ sâu tầng đất (cm) |
Màu sắc đất |
Độ chặt |
Thành phần cơ giới |
Tỷ lệ đá lẫn |
| Chân (Độ dốc $25^\circ$) |
$0 - 5$ $5 - 10$ $10 - 20$ $20 - 30$ $30 - 50$ |
Nâu Nâu vàng nhạt Vàng hơi đỏ Đỏ vàng nhạt Vàng đỏ |
Xốp nhẹ Hơi chặt Hơi chặt Chặt Chặt |
Đất cát Thịt nhẹ Thịt nhẹ Thịt nặng Thịt nặng |
Ít Ít Trung bình Ít Ít |
| Sườn (Độ dốc $25^\circ$) |
$0 - 5$ $5 - 10$ $10 - 20$ $20 - 30$ $30 - 50$ |
Nâu Nâu vàng nhạt Nâu hơi đỏ Nâu vàng nhạt Vàng đỏ |
Xốp nhẹ Hơi chặt Hơi chặt Chặt Chặt |
Đất cát Thịt nhẹ Thịt nhẹ Thịt nặng Thịt nặng |
Ít Ít Trung bình Ít Ít |
| Đỉnh (Độ dốc $35^\circ$) |
$0 - 5$ $5 - 10$ $10 - 20$ $20 - 30$ $30 - 50$ |
Nâu Vàng nhạt Nâu đỏ Đỏ vàng nhạt Đỏ vàng |
Hơi chặt Hơi chặt Chặt Chặt Rất chặt |
Thịt nhẹ Thịt nặng Thịt Thịt nặng Sét |
Ít Ít Trung bình Ít Ít |
2. Đặc điểm hình thái và vật hậu học cây Xoan đào
- Hình thái: Cây gỗ lớn, thân đơn trục thẳng hình trụ, cao $20 - 25\text{ m}$, đường kính ngang ngực trung bình $40 - 50\text{ cm}$ (cá thể lớn nhất ghi nhận đạt $81,21\text{ cm}$). Phân cành cao ở khoảng 3/4 chiều cao thân, góc phân cành lớn $60 - 70^\circ$, cành lớn cong vặn. Vỏ ngoài màu xanh trắng hoặc nâu nhạt, khi già nứt dọc nông, thịt vỏ vàng hoặc hồng, toàn thân có mùi hôi bọ xít đặc trưng. Cây có đường kính $> 50\text{ cm}$ xuất hiện bạnh vè nhỏ cao tới $1,2\text{ m}$. Lá đơn nguyên, phiến dày, dài $10 - 15\text{ cm}$, rộng $3 - 4\text{ cm}$, mặt sau có $10 - 15$ đôi gân thứ cấp nổi rõ phân bố so le. Khảo sát 30 cây tiêu chuẩn cho thấy đường kính tán trung bình đạt $9,2\text{ m}$.
- Vật hậu:
- Thời kỳ sinh dưỡng: Đổi màu lá vàng vào giữa tháng 11, rụng lá tập trung vào tháng 12, đâm chồi và ra lá non vào tháng 1 - 2.
- Thời kỳ sinh sản: Cây $8 - 10$ tuổi bắt đầu bói quả, từ 14 tuổi trở đi chất lượng hạt mới đạt tiêu chuẩn giống. Nở hoa vào tháng 3 - 4 (thời gian hoa nở kéo dài khoảng 20 ngày). Quả non hình thành từ cuối tháng 3 đến giữa tháng 5. Quả già từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 9. Quả chín và rụng từ tháng 10 đến tháng 11. Chu kỳ sai quả cách nhau $3 - 5$ năm (trong năm được mùa quả, tỷ lệ cây ra quả đạt $60 - 70%$).
- Đặc tính hạt giống: $1\text{ kg}$ quả có $300 - 350$ quả, độ thuần $> 95%$, tỷ lệ nảy mầm ban đầu $< 50%$. Do hạt chứa hàm lượng dầu cao nên mất sức nảy mầm nhanh (giảm $50 - 60%$ sức nảy mầm sau 1,5 tháng bảo quản thông thường), đòi hỏi phải ủ cát ẩm $80%$ và gieo ươm ngay sau khi thu hoạch.
3. Cấu trúc tầng cây cao và tính đa dạng loài
- Tổ thành loài: Xoan đào tham gia vào công thức tổ thành tầng cây cao ưu thế ở vị trí Chân ($IV = 14,98%$) và Đỉnh ($IV = 11,33%$), nhưng ở vị trí Sườn có chỉ số cạnh tranh thấp hơn ($IV < 5%$).
- Công thức Chân: $14,98\text{Xđ} + 10,78\text{B} + 7,13\text{K} + 6,32\text{Kh} + 5,29\text{Tt} + 5,23\text{N} + 50,27\text{Lk}$ (22 loài).
- Công thức Sườn: $9,89\text{Tm} + 7,02\text{Tv} + 6,86\text{Kh} + 6,75\text{Hđv} + 6,35\text{B} + 5,84\text{S} + 5,47\text{Lx} + 5,29\text{Ng} + 5,08\text{Rx} + 41,44\text{Lk}$ (21 loài).
- Công thức Đỉnh: $11,77\text{S} + 11,33\text{Xđ} + 10,85\text{Tt} + 7,64\text{Kh} + 6,68\text{Tđ} + 5,68\text{V} + 5,53\text{B} + 5,21\text{Gg} + 35,31\text{Lk}$ (20 loài).
(Ký hiệu: Xđ: Xoan đào, B: Bứa, K: Kẹn, Kh: Kháo, Tt: Trám trắng, N: Nhội, Tm: Thừng mực, Tv: Tu va, Hđv: Hải đường vàng, S: Sồi, Lx: Lim xanh, Ng: Ngát, Rx: Re xanh, Tđ: Trám đen, V: Vạng, Gg: Giẻ gai, Lk: Loài khác).
- Tầng thứ và mật độ: Cây Xoan đào trưởng thành chủ yếu chiếm lĩnh tầng vượt tán A1 ($H \ge 20\text{ m}$) và tầng tán chính A2. Mật độ lâm phần toàn rừng dao động từ $500 - 590\text{ cây/ha}$, trong đó mật độ Xoan đào đạt từ $30 - 35\text{ cây/ha}$.
| Vị trí |
Mật độ toàn rừng (cây/ha) |
Mật độ Xoan đào (cây/ha) |
Chiều cao TB toàn rừng $H_{bq}$ (m) |
Chiều cao TB Xoan đào $H_{bq}$ (m) |
Số loài ($S$) |
Chỉ số Simpson ($D$) |
Chỉ số Shannon ($H'$) |
| Chân |
535 |
35 |
8,98 |
11,23 |
21 |
0,90 |
2,76 |
| Sườn |
590 |
30 |
8,99 |
11,67 |
22 |
0,92 |
2,40 |
| Đỉnh |
500 |
30 |
9,95 |
16,00 |
20 |
0,93 |
2,39 |
4. Cấu trúc tầng cây tái sinh
- Tổ thành tái sinh: Các loài chiếm ưu thế tái sinh cao gồm Kháo, Tu va, Bứa, Nhội, Hải đường vàng, Trám trắng. Cây tái sinh Xoan đào có số lượng cá thể rất thấp nên không xuất hiện trong công thức tổ thành ($K_i < 0,5$ tương ứng tỷ lệ $n% < 5%$).
- Vị trí Chân: $1,43\text{Kh} + 1,27\text{Nh} + 0,95\text{Tv} + 0,95\text{Tt} + 0,79\text{B} + 0,63\text{Tđ} + 3,97\text{Lk}$
- Vị trí Sườn: $1,20\text{Tv} + 1,11\text{Hđv} + 1,11\text{Kh} + 1,02\text{B} + 0,65\text{Lx} + 0,56\text{Rx} + 0,56\text{Tt} + 3,80\text{Lk}$
- Vị trí Đỉnh: $1,00\text{Kh} + 0,78\text{B} + 0,78\text{V} + 0,67\text{Dgh} + 0,67\text{Gg} + 0,67\text{Tđ} + 0,56\text{Hđv} + 4,89\text{Lk}$
(Dgh: Dâu gia hó).
- Mật độ tái sinh: Mật độ cây tái sinh toàn lâm phần đạt từ $810 - 1.140\text{ cây/ha}$ (trong đó số cây triển vọng đạt $700 - 880\text{ cây/ha}$). Mật độ tái sinh riêng của Xoan đào rất nghèo nàn, dao động từ $40 - 60\text{ cây/ha}$ (ở vị trí chân ghi nhận $60\text{ cây/ha}$, sườn $50\text{ cây/ha}$, đỉnh $40\text{ cây/ha}$).
5. Giải pháp lâm sinh đề xuất
- Tổ chức bảo vệ nghiêm ngặt các cây mẹ Xoan đào thành thục hiện có (cây có độ tuổi $\ge 14$ tuổi, phẩm chất tốt, thân thẳng) tại các đai rừng đệm Tam Đảo để làm nguồn lấy giống tự nhiên.
- Thực hiện các biện pháp điều chỉnh tán che và xử lý thực bì: phát dọn cục bộ dây leo, cây bụi rậm rạp dưới tán cây mẹ vào thời điểm trước khi quả rụng (tháng 9 - 10) nhằm tạo điều kiện cho hạt tiếp xúc với đất khoáng.
- Tổ chức thu hái quả chín kịp thời trong tháng 9 - 10, tiến hành ủ hạt bảo quản trong cát ẩm đúng quy trình và gieo ươm ngay để phục vụ công tác trồng rừng bổ sung, làm giàu rừng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn thời gian thực tập tốt nghiệp (từ tháng 02/2016 đến tháng 06/2016), việc theo dõi các pha vật hậu sinh sản của loài Xoan đào (như giai đoạn quả già, quả chín từ tháng 8 đến tháng 11) chỉ mới dừng lại ở việc kết hợp điều tra hồi cố, phỏng vấn người dân địa phương và kế thừa các tài liệu nghiên cứu chuyên ngành trước đó. Phạm vi khảo sát thực địa giới hạn tại một đơn vị hành chính xã (Hoàng Nông).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục bố trí các ô định vị dài hạn để theo dõi liên tục động thái ra hoa, tỷ lệ đậu quả và chu kỳ sai quả $3 - 5$ năm của loài Xoan đào; đồng thời mở rộng các nghiên cứu thực nghiệm về kỹ thuật gieo ươm mô hình và khảo nghiệm các biện pháp kỹ thuật xúc tiến tái sinh nhân tạo trên các lập địa thoái hóa khác nhau trong khu vực miền núi phía Bắc.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học thực vật và Lâm sinh.
- Nội dung giá trị: Cung cấp hệ thống dữ liệu thực địa chi tiết về cấu trúc tổ thành ($IV%$), mật độ phân bố, các chỉ số đa dạng sinh học ($D$, $H'$) của hệ sinh thái rừng thứ sinh phục hồi IIA vùng đệm Tam Đảo; mô tả các tầng phát sinh đất feralit; cùng dẫn liệu cụ thể về hình thái giải phẫu và lịch vật hậu 12 tháng của cây Xoan đào (Pygeum arboreum Endl).
Câu hỏi thường gặp
1. Đặc điểm hình thái phân cành, vỏ thân và mùi đặc trưng của cây Xoan đào tại khu vực nghiên cứu là gì?
Cây Xoan đào trưởng thành có thân đơn trục thẳng hình trụ, phân cành ở vị trí khoảng 3/4 chiều cao thân cây với góc phân cành lớn ($60 - 70^\circ$), các cành lớn thường cong vặn và sà xuống. Vỏ ngoài màu xanh trắng hoặc nâu nhạt, khi già nứt dọc nông, thịt vỏ vàng hoặc hơi hồng, toàn thân cây tỏa ra mùi hôi bọ xít đặc trưng. Cây có đường kính $> 50\text{ cm}$ xuất hiện bạnh vè nhỏ cao tới $1,2\text{ m}$.
2. Trạng thái rừng tại 3 vị trí địa hình khảo sát ở xã Hoàng Nông được xếp vào kiểu nào theo tiêu chuẩn Loeschau?
Dựa trên chỉ số đường kính bình quân $D_{1.3}$ ($12,74 - 17,45\text{ cm}$), tổng tiết diện ngang ($G = 2,82 - 4,80\text{ m}^2/\text{ha}$), độ tàn che ($60% - 90%$) và sự hiện diện của các loài cây tiên phong ưa sáng, cả 3 vị trí Chân, Sườn, Đỉnh đều được xác định thuộc Trạng thái rừng IIA (rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy).
3. Nhịp điệu vật hậu ra hoa, kết quả và đặc tính bảo quản hạt giống Xoan đào diễn ra như thế nào?
Cây nở hoa vào tháng 3 - 4 (kéo dài khoảng 20 ngày), quả non phát triển từ cuối tháng 3 đến giữa tháng 5, quả già kéo dài từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 9, quả chín và rụng trong tháng 10 - 11. Chu kỳ sai quả từ $3 - 5$ năm. Hạt chứa nhiều dầu nên giảm $50 - 60%$ sức nảy mầm sau 1,5 tháng bảo quản thông thường; vì vậy cần ủ cát ẩm $80%$ và gieo ươm ngay sau khi thu hái vào tháng 9 - 10.
4. Mật độ và vị trí tầng tán của cây Xoan đào trong cấu trúc lâm phần tầng cây cao tại Hoàng Nông ra sao?
Trong lâm phần cây cao, Xoan đào phân bố ở mật độ từ $30 - 35\text{ cây/ha}$ (chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng mật độ toàn rừng $500 - 590\text{ cây/ha}$). Cây Xoan đào trưởng thành là loài ưa sáng, chiếm lĩnh tầng vượt tán A1 ($H \ge 20\text{ m}$) và tầng tán chính A2 của rừng.
5. Vì sao Xoan đào không có tên trong công thức tổ thành tầng cây tái sinh tại khu vực nghiên cứu?
Mật độ cây tái sinh Xoan đào tại các vị trí điều tra rất thấp, chỉ đạt $40 - 60\text{ cây/ha}$ (so với tổng mật độ tái sinh toàn lâm phần là $810 - 1.140\text{ cây/ha}$). Do số lượng cá thể điều tra được nhỏ, hệ số tổ thành không đạt ngưỡng quy chuẩn $K_i \ge 0,5$ (tương ứng tỷ lệ tham gia $n% < 5%$), nên Xoan đào không đủ điều kiện tham gia công thức tổ thành tầng cây tái sinh.
Kết luận
Khóa luận đã khảo sát và làm rõ các đặc tính lâm học cơ bản của loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) mọc tự nhiên trong trạng thái rừng phục hồi IIA tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu xác định Xoan đào là loài cây gỗ lớn ưu thế ở tầng vượt tán A1 và tầng tán chính A2 nhưng mật độ tầng cây cao ($30 - 35\text{ cây/ha}$) và mật độ cây tái sinh tự nhiên ($40 - 60\text{ cây/ha}$) đều ở mức thấp. Các dẫn liệu chi tiết về đặc tính phẫu diện đất feralit, biên độ sinh thái, hình thái thân - lá và nhịp điệu vật hậu học được công bố trong khóa luận là cơ sở khoa học trực tiếp phục vụ công tác xây dựng giải pháp kỹ thuật lâm sinh, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và nhân giống phát triển loài Xoan đào tại địa phương.