Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu Chƣơng 2: Đối tƣợng, địa điểm, thời gian và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và dự kiến đề xuất giải pháp quản lý đa dạng sinh học thực vật thân gỗ khu vực nghiên cứu Kết luận và kiến nghị Danh mục tài liệu tham khảo 8 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Trên Thế giới: Thuật ngữ ĐDSH xuất hiện từ giữa những năm 1980, nhằm nhấn mạnh sự cần thiết trong các hoạt động nghiên cứu về tính đa dạng và phong phú của sự sống trên trái đất. Thuật ngữ này hiện đang đƣợc sử dụng rộng rãi nhất trên phạm vi toàn cầu trong các lĩnh vực khoa học và văn hóa đời sống. Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) đã thúc đẩy ý tƣởng về một công ƣớc toàn cầu về ĐDSH vào năm 1981, và năm 1987 Chƣơng trình về môi trƣờng của Liên hợp Quốc (UNEP) đã kêu gọi sự hợp tác quốc tế nhằm bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH.
Các cuộc họp trù bị đã thành lập Ủy ban hợp tác liên chính phủ để chuẩn bị cho Công ƣớc ĐDSH vào tháng 5 năm 1992, bản thảo cuối cùng của công ƣớc RIO đã đƣợc chuẩn bị xong. Chiến lƣợc ĐDSH toàn cầu đã đƣợc Viện tài nguyên Thế giới, hiệp hội quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên (IUCN) và Chƣơng trình môi trƣờng của Liên hợp quốc (UNEP) công bố năm 1992. Công ƣớc Quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học (CBD) đã đƣợc 179 nƣớc trên thế giới thông qua, trong đó có Việt Nam. Tài nguyên đa dạng sinh học đang thu hút sự quan tâm của toàn nhân loại bởi giá trị và tầm quan trọng của nó.
Thế giới sinh học trải qua hàng triệu năm phát triển để đƣợc nhƣ ngày nay với khoảng 10-100 triệu loài sinh sống, trong đó khoảng 1,7 triệu loài đã đƣợc định tên (Hawksworth và Ritchie, 1998), đang bị tàn phá nghiêm trọng. Khoảng 20% số loài đã bị biến mất trong vòng 30 năm qua và 50% hoặc hơn nữa sẽ ra đi vào cuối thế kỷ 21 (Myers, 1993; Sharma, 2004). Nguyên nhân suy thoái gây nên bởi con ngƣời do sự tàn phá các khu vực sống tự nhiên, canh tác, khai thác bừa bãi, ô nhiễm, du nhập ồ ạt các loại vật nuôi cây trồng vv. Nghiên cứu đánh giá tài nguyên đa dạng sinh học là một hoạt động hết sức cần thiết nhằm tạo nên cơ sở dữ liệu cho các giải pháp bảo tồn, hoạch định chính sách và kế hoạch phát triển sử dụng bền vững tài nguyên.
ĐDSH trên phạm vi toàn thế giới đã và đang suy giảm một cách nhanh chóng. Trƣớc tình hình đó thế giới có nhiều nỗ lực nhằm hạn chế sự suy giảm đó, cụ thể là có nhiều công ƣớc liên quan đến bảo vệ ĐDSH đã ra đời nhƣ Công ƣớc RAMSAR, Iran (1971), Công ƣớc CITES (1972), Công ƣớc Paris (1972), Công ƣớc bảo vệ các loài ĐVHD di cƣ, Born (1979). Song song với việc xây dựng các công ƣớc bảo vệ ĐDSH, các công trình nghiên cứu khoa học về ĐDSH cũng đƣợc công bố. Số loài bình quân trong rừng ôn đới khoảng 21- 48 loài.
Sự đa dạng về loài của rừng mƣa nhiệt đới đƣợc diễn đạt bằng công thức Shannon-Weaver (1971) nhƣ là một thông số so sánh mật độ tham gia của mỗi loài với H = 6,0 (cực đại có thể 6,2 = 97%) lớn gấp 10 lần so với rừng lá rộng ôn đới (0,6). Thông số này giảm dần từ vùng nhiệt đới đến hai cực và phụ thuộc vào các lục địa khác nhau. Theo lý thuyết ốc đảo của Mac Arthur-Wilson (1971) thì số lƣợng loài tƣơng tự bằng căn bậc bốn của diện tích ốc đảo. Ngƣợc lại, diện tích bị thu hẹp lại có nghĩa là một số loài tƣơng ứng sẽ bị tiêu diệt hoặc phải đấu tranh để tồn tại (Wilson, 1992).
Danh sách các loài sinh vật có tên trong sách đỏ ngày càng tăng lên, có nghĩa là các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng ngày càng nhiều mà nguyên nhân không có gì khác hơn là các hoạt động sống của con ngƣời. Khi so sánh các dạng sử dụng đất khác nhau (chẳng hạn nông nghiệp, du lịch, giao thông, v.) thì lâm nghiệp đứng hàng thứ 2 (sau nông nghiệp) nhƣ là nguyên nhân của việc suy giảm, trong khi cách đây một phần tƣ thế kỷ (1981) còn xếp ở vị trí thứ 6 (sau nông nghiệp, du lịch, khai thác vật liệu, đô thị hoá và thuỷ lợi) (Sukopp, 1981-dẫn theo Pitterle, A.1 Các vấn đề về đa dạng sinh học tại Việt Nam Việt Nam là một trong các quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới, đƣợc công nhận là một quốc gia ƣu tiên cao cho bảo tồn toàn cầu. Các hệ sinh thái của Việt Nam giàu có và đa dạng với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô giàu và đẹp, cùng tạo nên môi trƣờng sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú trên toàn cầu. Nhiều loài động, thực vật độc đáo của Việt Nam không có ở nơi nào khác trên thế giới, đã khiến cho Việt Nam trở thành nơi tốt nhất để bảo tồn các loài đó.
Độ che phủ rừng của Việt Nam, gồm cả rừng tự nhiên và rừng trồng, chiếm hơn 43% tổng diện tích đất đai cả nƣớc. Khoảng 18% trong đó là rừng trồng. Chỉ có 7% diện tích rừng còn lại là rừng nguyên sinh và gần 70% là rừng thứ sinh nghèo. Đất ngập nƣớc của Việt Nam đa dạng, bao gồm sông suối, ao hồ, đầm lầy, rừng ngập nƣớc và bãi rong tảo.
Có 39 kiểu đất ngập nƣớc đã đƣợc thống kê, bao gồm rừng ngập mặn, các loại rừng giữa vùng triều, các đầm phá nƣớc lợ, thảm cỏ biển, rạn san hô, đều là các hệ sinh thái giàu có về loài và có năng suất cao. Môi trƣờng biển có 20 kiểu hệ sinh thái đặc thù - trong đó có nhiều hệ rất độc đáo về các đặc trƣng hải dƣơng học. Các hệ sinh thái này là môi trƣờng sống của hơn 11.000 loài 10 sinh vật.100 km2 rạn san hô phân bố rộng rãi từ Bắc vào Nam, với những rạn lớn nhất và có tính đa dạng sinh học cao nhất tại miền Trung và miền Nam. Các rạn san hô của Việt Nam có gần 400 loài san hô tạo rạn, tƣơng đƣơng với những hệ sinh thái đa dạng nhất trên thế giới.
Việt Nam là một trong 8 ―trung tâm giống gốc‖ Vavilov của cây trồng gia dụng, và có độ đa dạng cao về các loại cây trồng, vật nuôi. Chẳng hạn, Việt Nam có hàng chục giống của 14 loài gia súc và gia cầm chính. Các loài cây trồng gia dụng rất đa dạng, với hơn 700 loài cung cấp lƣơng thực, thuốc men và vật liệu xây dựng. Trong những thập kỷ gần đây, ở Việt Nam đã bổ sung vào danh sách thêm nhiều loài mới: 5 loài thú mới và 3 loài chim mới đƣợc mô tả cho vùng lục địa Đông Nam Á trong vòng 30 năm qua.
Nhiều loài mới thuộc các lớp bò sát, lƣỡng cƣ, cá và động vật không xƣơng sống cũng đã đƣợc mô tả, trong đó có 6 loài cua mới. Trong 10 năm tính tới 2002, về thực vật có 13 chi, 222 loài và 30 taxon dƣới loài mới đã đƣợc mô tả. Rừng tự nhiên đang bị chia cắt và suy thoái về chất lƣợng. Mất rừng và suy thoái rừng là những lý do chính gây nên sa mạc hoá và suy kiệt đất, tạo nên hàng loạt các tác động tiêu cực, nhƣ lũ lụt và hạn hán nghiêm trọng ngày càng gia tăng, diện tích đất màu giảm.
Việc chuyển đất ngập nƣớc vào những mục đích sử dụng khác đang diễn ra với tốc độ cao. Những vùng đất ngập nƣớc còn lại đang bị sử dụng quá mức và chịu sức ép lớn từ các nhu cầu phát triển. Gần 700 loài bị đe dọa tuyệt chủng ở cấp quốc gia, trong khi đó trên 300 loài bị đe dọa tuyệt chủng cấp độ toàn cầu. Có 49 loài bị đe dọa ở cấp toàn cầu tại Việt Nam thuộc loại ―cực kỳ nguy cấp‖, nghĩa là chúng phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cao trong tự nhiên trong một tƣơng lai rất gần.
Nếu với xu hƣớng tiếp diễn nhƣ hiện nay, thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 có thể sẽ phải chứng kiến một làn sóng tuyệt chủng đối với một số loài động, thực vật hoang dã của Việt Nam ở một mức độ chƣa từng thấy trong lịch sử. Các xu hƣớng đó phản ánh các mối đe dọa gia tăng đối với đa dạng sinh học. Khi nền kinh tế của đất nƣớc đƣợc mở rộng và dân số gia tăng, tình trạng mất sinh cảnh, sinh cảnh bị chia cắt, ô nhiễm và các loài ngoại lai xâm hại cũng gia tăng. Các mối đe doạ này càng nghiêm trọng vì thiếu các cơ chế tổ chức rõ ràng để bảo tồn đa dạng sinh học, thiếu năng lực và cam kết thực hiện các chính sách đúng đắn, cũng nhƣ thiếu quyền quản lý tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng địa phƣơng.
Chính phủ Việt Nam cùng với các đối tác đang đáp ứng các nhu cầu bảo tồn khẩn cấp. Các nỗ lực của Chính phủ, các nhà tài trợ và các tổ chức bảo tồn quốc tế là rất lớn và đã tạo ra nhiều thành tựu có tính then chốt. 11 - Năm 1972: ban hành pháp lệnh qui định việc bảo vệ rừng; - Chính phủ đã ra quyết định số 41/TTg ngày 24-1-1977 về việc qui định các khu rừng cấm và quyết định danh sách 10 khu rừng cấm, đánh dấu giai đoạn hình thành hệ thống KBTTN tại Việt Nam; - Năm 1991: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; - Năm 1993: Ký công ƣớc ĐDSH và phê chuẩn công ƣớc đó; - Năm 1994: Ban hành Luật Môi trƣờng; - Năm 1995: Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch Hành động ĐDSH tại Việt Nam tại quyết định số 845/QĐ-TTg ngày 22-12-1995; - Năm 2008: Luật ĐDSH đã đƣợc Quốc hội Khóa XII thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 tại kỳ họp thứ 4 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2009. Bên cạnh đó, Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều công ƣớc quốc tế liên quan đến việc bảo tồn ĐDSH nhƣ sau: Việt Nam đã thiết lập đƣợc khung luật pháp liên quan đến công tác bảo tồn, cụ thể là: Bảng 1.