mở đầu một thời kỳ hoạt động dầu khí có tổ chức ở Việt Nam. Ngay sau khi nước nhà thống nhất ngày 20/7/1975, Bộ Chính trị đã xác định đường lối phát triển ngành dầu mỏ và khí đốt Việt Nam, trong đó đã vạch ra chính sách hợp tác với nước ngoài (quy định những nguyên tắc cơ bản về lựa chọn đối tượng hợp tác, hình thức hợp tác và địa bàn hợp tác). Ngày 9-8-1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 244-NQ/TW về việc triển khai thăm dò dầu khí trên cả nước. Đây là văn bản đầu tiên về phát triển dầu khí, thể hiện sự sáng suốt, tầm nhìn chiến lược của Đảng.
Nghị quyết khẳng định: ―Dầu hỏa và khí đốt là nguồn năng lượng quan trọng của tất cả các nước công nghiệp. Ngành công nghiệp lọc dầu và hóa dầu (phân bón, chất dẻo, sợi tổng hợp, dược phẩm, v.) là một thành phần cơ bản và tiên tiến của một cơ cấu công nghiệp hiện đại.Sau khi chiến thắng đế quốc Mỹ, cả nước ta bước vào thời kỳ phát triển kinh tế toàn diện; chúng ta phải nhanh chóng tìm ra và khai thác dầu, khí. Dầu hỏa trở thành một vấn đề kinh tế và chính trị có ý nghĩa chiến lược cần được Nhà nước coi làm một trọng điểm ưu tiên trong kế hoạch kinh tế tài chính và khoa học kỹ thuật.Với kết quả thăm dò tới nay ở cả hai miền, tuy chưa đánh giá được trữ lượng công nghiệp, nhưng đã có thể khẳng định triển vọng dầu mỏ và khí đốt ở nước ta. Cần xác định ngay một chính sách dầu, khí để biến triển vọng này thành hiện thực.
Chính sách này phải rất tích cực, đáp ứng được yêu cầu 11 z phát triển trước mắt và lâu dài của nước ta, đồng thời phù hợp với vị trí, trình độ kinh tế, khả năng kỹ thuật, quản lý và triển vọng tài nguyên của nước ta ‖ [56 tr. Ngày 20-8-1975, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã phê chuẩn Quyết nghị số 33-QN/QH/K5 thành lập Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam. Ngày 3-9-1975, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 170/CP về việc thành lập Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam, với mục tiêu: ―nhanh chóng tìm ra và khai thác nhiều dầu khí. nhanh chóng hình thành một nền công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh, bao gồm cả thăm dò, khai thác, vận chuyển, lọc dầu, hóa dầu, cơ khí phục vụ ngành Dầu khí.
Ngày 29-12-1987 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đã tạo điều kiện cho hoạt động dầu khí có một môi trường mới. Hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam (ở Đồng bằng sông Hồng hay ở thềm lục địa), hợp tác với Liên Xô đều trên cơ sở các hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ. Ngày 7-7-1988 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW về Phương hướng phát triển ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2000. Nghị quyết khẳng định:“Đất nước ta có nguồn tiềm năng dầu khí đáng kể ở thềm lục địa.
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải tập trung những cố gắng đến mức cao nhất để biến tiềm năng đó thành hiện thực, từng bước đưa dầu khí trở thành một ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế những thập kỷ tới”. 206] Nghị quyết 15 NQ/TW ngày 7/7/1988 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ:‖…Thu hút được những khoản đầu tư đáng kể từ nước ngoài vào, đẩy mạnh công tác thăm dò khai thác dầu khí đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, hình thành vào năm 2000 ngành công nghiệp Dầu khí ở nước ta bao gồm thăm dò, khai thác, chế biến, dịch vụ xuất nhập khẩu…” [56, tr.206] Về đẩy mạnh hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí Nghị quyết 15 NQ/TW ngày 7/7/1988 của Bộ Chính trị đã ghi rõ: ―…đến năm 1995, đẩy mạnh công tác tìm 12 z kiếm thăm dò trên toàn bộ thềm lục địa Việt nam. Thực hiện tinh thần này, Tổng công ty Dầu khí đã: - Triển khai công tác thăm dò dầu khí trên toàn thềm lục địa Việt nam, trong đó các khảo sát địa vật lý và khoan thăm dò, khai thác đã được tiến hành trên tất cả các bể trầm tích Đệ tam được đánh giá có triển vọng dầu khí như các bể Sông Hồng, Phú khánh, Nam Côn Sơn, Cửu long, Malay-Thổ chu và vùng Tư chính- Vũng mây với một khối lượng lớn: trên 260.000 km địa chấn 2D, trên 15.000 km km2 địa chấm 3D, trên 550 giếng khoan thăm dò và khai thác với tổng số 1.000 m khoan, chi phí và vốn đầu tư gần 7 tỷ USD. - Đã xác định trữ lượng và tiềm năng dầu khí của Việt Nam, ngoài biển và trên đất liền cho con số dự báo khoảng 4 tỷ m3 dầu quy đổi, trong đó khoảng 1.100 triệu m3 dầu và 2.
- Đã phát hiện trên phần lớn thềm lục địa có chiều sâu đến 200m nước hơn 50 cấu tạo có biểu hiện dầu khí, trữ lượng xác minh khoảng 1.200 triệu m3 dầu quy đổi, trong đó 550 triệu m3 dầu và 650 tỷ m3 khí. - Phần lớn trữ lượng tiềm năng còn lại tập trung chủ yếu ở vùng nước sâu, xa bờ và các vùng chồng lấn. - Tạo công ăn việc làm, xây dựng và đào tạo một đội ngũ cán bộ KHKT, cán bộ quản lý và công nhân dầu khí Việt Nam. Nghị quyết 15 NQ/TW ngày 7/7/1988 của Bộ Chính trị đã ghi rõ: “…Xây dựng và đào tạo một đội ngũ công nhân, cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý đủ sức từng bước làm chủ ngành công nghiệp Dầu khí, tiến lên tự lực phát triển ngành vào thế kỷ sau…”[56, tr.
206] Như vậy, với sự ra đời Nghị quyết số 15/NQ-TW ngày 7/7/1988 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI đã quy định cụ thể phương hướng phát triển ngành dầu khí. Đây là kim chỉ nam cho chính sách và cơ chế quản lý nguồn tài nguyên dầu khí của đất nước, trong đó Chính phủ sẽ quản lý và chỉ đạo trực tiếp Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam, xây dựng cơ chế hoạt động và đầu tư phát triển ngành Dầu khí Việt Nam nói chung và Tâp đoàn Dầu khí Việt Nam nói 13 z riêng trở thành một trong những ngành quan trọng đối với nền công nghiệp của Việt Nam. Tổng công ty Dầu khí Việt Nam là đơn vị duy nhất thực hiện toàn bộ các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí với mục tiêu cơ bản là gắn phát triển Ngành dầu khí với đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh quốc gia và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển; ưu tiên, ưu đãi cho các hoạt động dầu khí tại các vùng biển nước sâu, xa bờ, vùng chồng lấn. Nghị quyết số 15-NQ/TW (ngày 7-7-1988) của Bộ Chính trị đã thổi luồng gió đổi mới vào hoạt động dầu khí Việt Nam.
Nhiều công ty dầu khí phương Tây bắt đầu trở lại Việt Nam. Đồng thời với hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí, những cơ sở dịch vụ dầu khí đầu tiên được xây dựng. Nền móng của ngành công nghiệp Dầu khí Việt Nam được hình thành. Trước bối cảnh nền kinh tế trì trệ, lạm phát cao và kéo dài, đời sống nhân dân sút kém, trong khi tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, mà đỉnh điểm là hệ thống các nước XHCN sụp đổ.
Tháng 6-1991, Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng đã thông qua ―Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội‖ , và ―Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000‖. Bản Cương lĩnh và Chiến lược trên đã cụ thể hóa một bước đường lối đổi mới đã được đề ra từ Đại hội VI, đồng thời khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục đổi mới của Việt Nam. ―Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000‖ do Đại hội VII thông qua đã đề ra chủ trương ―Xúc tiến mạnh việc hợp tác và liên doanh với nước ngoài thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí. Xây dựng công nghiệp lọc, hóa dầu theo công nghệ hiện đại kéo theo sự phát triển một số ngành khác đi từ nguyên liệu dầu và khí‖ [32, tr 168].
Thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí và một số loại khoáng sản được coi là một trong bốn lĩnh vực kinh tế có điều kiện và cần phải tăng trưởng mạnh trong thập kỷ 1990 để thúc đẩy và hỗ trợ các ngành khác. Để bảo vệ, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên dầu khí nhằm phát triển kinh tế quốc dân, mở rộng hợp tác với nước ngoài, Luật Dầu khí được Quốc hội thông qua năm 1993 đã thể hiện rõ việc Nhà nước luôn kịp thời thể chế 14 z hóa chủ trương, đường lối của Đảng bằng luật pháp. Luật Dầu khí được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cả Petrovietnam cũng như các đối tác trong việc tiến hành các hoạt động dầu khí trong đất liền cũng như trên biển, trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, được các công ty nước ngoài hoan nghênh. Tuy vậy, sau một thời gian thực hiện Luật, qua xem xét, nghiên cứu thực tiễn hoạt động tìm kiếm, thăm dò dầu khí của Petrovietnam và các công ty dầu khí nước ngoài, Chính phủ đã đề nghị Quốc hội sửa đổi Luật Dầu khí để thích hợp với các hoạt động tìm kiếm thăm dò tại các vùng nước sâu, xa bờ, có nhiều khó khăn.
Để kịp thời đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tế, trong khi chờ Quốc hội sửa đổi Luật, ngày 7-11-1998 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 216/QĐ-TTg về khuyến khích đầu tư đối với các hoạt động dầu khí tại các vùng nước sâu, xa bờ và khu vực có điều kiện địa lý, địa chất, kinh tế, kỹ thuật đặc biệt khó khăn. Năm 2000, Quốc hội đã thông qua Luật Dầu khí sửa đổi và đã được các nhà thầu nước ngoài hết sức hoan nghênh. Đây là một sự việc minh chứng cho sự cầu thị và phản ứng kịp thời của Nhà nước Việt Nam trong hoạt động kinh tế đối ngoại trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi. Đối với đất nước nói chung và đối với ngành Dầu khí nói riêng, chủ trương, đường lối của Đảng có tầm quan trọng hết sức lớn lao.
Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã ban hành kịp thời, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể đã tạo cơ sở pháp lý cho TCTDK trong quá trình thăm dò khai thác Dầu khí và sản xuất kinh doanh.