MỞ ĐẦU Trong thời kỳ hội nhập, kinh tế đang trên đà phát triển, giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước vẫn đang được thực thi. Cùng với quá trình đó, nhu cầu về nhà ở, nơi làm việc ngày càng tăng tại Thủ đô. Chính vì vậy đã có rất nhiều các tòa nhà, chung cư, cao ốc, văn phòng mới xây ở Hà Nội nhằm phục vụ mục đích sinh hoạt cũng như làm việc. Song song với việc đó thì vấn đề nước thải của các khu chung cư, cao ốc văn phòng cũng là một vấn đề quan trọng, nếu không được xử lý hoặc không được xử lý triệt để trước khi thải ra môi trường sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến môi trường sống cũng như sức khỏe con người.
Tại các đô thị của các nước phát triển, vấn đề xử lý nước thải các tòa nhà chung cư trong hệ thống xử lý nước thải của thành phố được kiểm soát chặt chẽ [9]. Tuy nhiên, tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng vẫn chưa được quan tâm nhiều, nhiều chủ đầu tư các tòa nhà lắp đặt hệ thống xử lý nước thải chủ yếu mang tính chất đối phó để xin giấy phép xả nước thải ra hệ thống của thành phố. Nên hầu hết hệ thống xử lý nước thải các tòa nhà nếu có đều nhanh chóng xuống cấp, lạc hậu hoặc hoạt động không hiệu quả do chủ quan muốn giảm chi phí đầu tư, chi phí vận hành [3]. Vậy vấn đề đặt ra là làm sao để có một hệ thống xử lý nước thải cho khu chung cư, cao ốc đạt hiệu quả mà chi phí đầu tư được tiết kiệm, chất lượng nước thải ra môi trường tốt, hiệu quả vận hành cao là điều rất quan trọng.
Để đáp ứng được yêu cầu trên, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng công nghệ và hệ thống xử lý nước thải khu chung cư, cao ốc để tìm ra hướng đầu tư hợp lý nhất với chi phí đầu tư thấp và đảm bảo được chất lượng nước đầu ra đạt yêu cầu cùng với đánh giá phù hợp với các nhu cầu thực tế khác là cần thiết trong thời điểm hiện tại. Tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu thực trạng công nghệ và hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tại một số chung cư ở Hà Nội” với mục tiêu sau: 1. Nghiên cứu thực trạng công nghệ và hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tại ba tòa nhà chung cư tại Hà Nội tiêu biểu cho ba loại công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt. So sánh và đánh giá ưu nhược điểm của công nghệ và hệ thống xử lý nước thải dựa vào kết quả, nhu cầu thực tế.
Đề xuất áp dụng công nghệ và hệ thống xử lý hợp lý nhất cho nước thải sinh hoạt cho Tòa nhà ở Hà Nội trong thời gian tới. Tổng quan về nước thải tòa nhà 1. Đặc tính nước thải tòa nhà Tòa nhà chủ yếu vẫn bao gồm các căn hộ phục vụ sinh sống cho người dân. Ngoài ra một số khu cao cấp còn kinh doanh trung tâm thương mại, nhà hàng, cho thuê kiot,… vì vậy nước thải của tòa nhà chủ yếu là nước thải sinh hoạt.
Nước thải sinh hoạt chia ra làm hai loại nước thải: nước thải đen và nước thải xám. Nước thải đen là phân và nước thải từ nhà vệ sinh, nước thải xám bao gồm nước thải từ nhà tắm, máy giặt; nước thải từ khu nhà bếp, nấu ăn. Đặc tính của Nước thải sinh hoạt là có chứa nhiều chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học, ngoài ra còn có các thành phần vô cơ, vi sinh vật và vi trùng bệnh rất nguy hiểm. Chất hữu cơ chứa trong Nước thải sinh hoạt bao gồm các hợp chất như: protein (40 - 50%), hydratcacbon (40 - 50%), chất béo (5 - 10%), nồng độ chất hữu cơ trong Nước thải sinh hoạt dao động trong khoảng 150 - 450mg/l.
Lượng nước thải sinh hoạt dao động trong phạm vi rất lớn có thể tính bằng 90% - 100% lượng nước được cấp [8]. Lưu lượng và thành phần nước thải sinh hoạt tại tòa nhà phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như: - Nhu cầu sử dụng nước cho ăn uống, sinh hoạt của Tòa nhà. - Số lượng người, hộ gia đình sinh hoạt tại Tòa nhà. - Chế độ thải nước: chính là chế độ sinh hoạt, tức là chế độ thải nước không đồng đều trong 1 ngày đêm.
- Chất lượng nước thải: Cũng giống độ chế độ thải nước, nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải cũng không đồng đều trong 1 ngày đêm. Tiêu chuẩn nước cho nhu cầu ăn uống sinh hoạt và các nhu cầu khác tính theo đầu người đối với các điểm dân cư Giai đoạn STT Đối tượng dùng nước và thành phần cấp nước 2010 2020 I. Đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, khu du lịch, nghỉ mát a) Nước sinh hoạt: - Tiêu chuẩn cấp nước (l/người.ngày): + Nội đô 165 200 + Ngoại vi 120 150 - Tỷ lệ dân số được cấp nước(%): + Nội đô 85 99 + Ngoại vi 80 95 b) Tỷ lệ dân số được cấp nước (tưới cây, rửa đường, 10 10 cứu hoả,…); Tính theo % của (a) c) Nước cho công nghiệp dịch vụ trong đô thị; Tính 10 10 theo % của(a) d) Nước khu công nghiệp 22÷45 22÷45 e) Nước thất thoát; Tính theo % của (a+b+c+d) <25 <20 f) Nước cho yêu cầu riêng của nhà máy xử lý nước; 7÷10 5÷8 Tính theo % của (a+b+c+d+e) II. Đô thị loại II, đô thị loại III a) Nước sinh hoạt: - Tiêu chuẩn cấp nước (l/người.ngày): + Nội đô 120 150 + Ngoại vi 80 100 - Tỷ lệ dân số được cấp nước (%): + Nội đô 85 99 + Ngoại vi 75 90 b) Nước phục vụ công cộng (tưới cây, rửa đường, cứu 10 10 hoả,…); Tính theo % của (a) c) Nước cho công nghiệp dịch vụ trong đô thị; Tính 10 10 theo % của (a) d) Nước khu công nghiệp 22÷45 22÷45 e) Nước thất thoát: Tính theo % của (a+b+c+d) <25 <20 f) Nước cho yêu cầu riêng của nhà máy xử lý nước; 8÷10 7÷8 Tính theo % của (a+b+c+d+e) (Nguồn: TCXDVN 33:2006: Cấp nước – Mạng lưới đường ống và công trình tiêu chuẩn thiết kế) 4 z Đối với Việt Nam tiêu chuẩn cấp nước cho nhu cầu ăn uống sinh hoạt và các nhu cầu khác tính theo đầu người cho: - Các đô thị lớn ở mức 150-200 l/người.ngày, - Đô thị loại II, loại III ở mức 100-150 l/người.ngày, - Vùng nông thôn ở mức 100 l/người.
Có thể ước tính đến 90% - 100% lượng nước cấp cho sinh hoạt trở thành nước thải sinh hoạt [8]. Đặc tính của nước thải sinh hoạt: Đặc điểm hóa lý của nước thải sinh hoạt: Nước thải thường được đặc trưng bởi màu xám, mùi hôi, hàm lượng chất rắn khoảng 0,1% và nước là 99,9%. Chất rắn gồm chất rắn lơ lửng (khoảng 30%) và chất rắn hoà tan (khoảng 70%). Chất rắn hoà ran có thể được loại bỏ bằng quá trình hoá học và sinh học.
Về mặt hoá học, nước thải thì bao gồm các chất hữu cơ, vô cơ và nhiều khí hòa tan khác. Các hợp chất hữu cơ có thể gồm cacbonhydrat, prôtêin, chất béo, mỡ, chất hoạt động bề mặt, dầu khoáng,. Các hợp chất vô cơ có thể gồm nitơ, phốtpho, pH, sunfua, Clo, kiềm, hợp chất độc. Đặc điểm về vi sinh vật trong nước thải sinh hoạt: Về mặt sinh học, nước thải bao gồm nhiều loại vi sinh vật nhưng một trong những loại được quan tâm là nguyên sinh vật, thực vật, nguyên sinh động vật.
Nhóm nguyên sinh vật bao gồm vi khuẩn, vi nấm, động vật nguyên sinh và tảo. Nhóm thực vật bao gồm dương xỉ, rong, rêu, hạt giống cây,. Các loài không xương sống và có xương sống được xếp trong nhóm động vật. Đối với quá trình xử lý nước thải các tác nhân sinh học đóng vai trò quan trọng nhất là nhóm nguyên sinh vật đặc biệt là vi khuẩn, vi nấm, nguyên sinh động vật và tảo.
Mặc dù vậy, nước thải bao gồm nhiều vi sinh vật gây bệnh được phát sinh từ con người, những người bị lây nhiễm bệnh hay những người mang mầm bệnh đặc biệt. Tải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt Khối lượng Vi sinh TT Chất ô nhiễm (g/người. Một số chỉ tiêu ô nhiễm chủ yếu của nước thải sinh hoạt: Nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD) Chỉ tiêu này cho biết số lượng ôxy tiêu thụ bởi các vi sinh vật hiếu khí tồn tại trong nước thải. Theo quy ước việc đo chỉ tiêu này được thực hiện ở điều kiện 20 oC trong 5 ngày, vì vậy nó được gọi là BOD5 thay cho tổng nhu cầu ôxy sinh hóa theo lý thuyết BOD.
Thông thường các chất hữu cơ cacbon bị ôxy hóa nhanh hơn so với các hợp chất nitơ, như vậy giá trị BOD5 chủ yếu biểu thị lượng các hợp chất cacbon dễ phân hủy. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng BOD5 đôi lúc cũng bao hàm cả lượng oxy đối với NH3-N và chất vô cơ dễ oxy hoá như sunphít và muối sắt. Nhu cầu ôxy hóa học (COD) COD biểu thị lượng ôxy tương đương của các thành phần hữu cơ có trong nước thải có thể bị ôxy hóa bởi các chất ôxy hóa hóa học mạnh. Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của nguồn thải, thông thường COD liên quan đến BOD, cacbon hữu cơ và các chất hữu cơ trong nước thải.
Hiện nay có 2 phương pháp đo COD thông dụng là dùng KMnO4 làm chất ôxy hóa cho giá trị COD và chất ôxy hóa K2Cr2O7 cho giá trị CODCr. Mối liên hệ giữa các chỉ số này và BOD được biểu diễn trên. 6 z Hàm lượng chất rắn Tổng chất rắn là thành phần vật lý đặc trưng nhất của nước thải. Nó bao gồm các chất rắn không tan lơ lửng- chất rắn lơ lửng, chất keo và chất hòa tan.
+ Chất rắn lơ lửng: có kích thước hạt > 10-4mm có thể lắng được và không lắng được. Nó được xác định bằng cách cho nước thải thấm qua giấy lọc tiêu chuẩn với kích thước lỗ khoảng 1,2 µm. Gạn lấy lượng cặn đọng lại trên giấy thấm, đem sấy ở nhiệt độ 1050C cho đến khi trọng lượng không đổi. + Chất rắn lơ lửng lắng được là chất rắn có khả năng lắng tạo lớp cặn khi để nước thải lắng yên trong ống nghiệm với thời gian 2h.
+ Cặn hoà tan: có kích thước rất nhỏ < 10-6mm. Các hợp chất của nitơ Trong nước thải nitơ tồn tại ở dạng NO3-, NO2-, NH4+, và nitơ hữu cơ. Các hợp chất này có thể sinh hóa từ dạng này sang dạng khác và là các cấu thành của chu trình chuyển hoá nitơ.