Tổng quan nghiên cứu

Ô nhiễm nguồn nước do nước thải đô thị chưa qua xử lý triệt để đang là một trong những thách thức môi trường nghiêm trọng nhất tại các đô thị lớn ở Việt Nam. Theo thống kê môi trường đô thị, tỷ lệ nước thải sinh hoạt được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn tại các thành phố lớn như Hà Nội chỉ chiếm khoảng 15% đến 22%, phần lớn lượng nước thải còn lại vẫn xả trực tiếp vào hệ thống sông hồ nội đô như sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Sét gây ra hiện tượng phú dưỡng hóa trầm trọng. Vấn đề loại bỏ các hợp chất nitơ trong nước thải sinh hoạt đòi hỏi sự kết hợp phức tạp giữa các quá trình sinh hóa hiếu khí và thiếu khí.

Tại Trạm xử lý nước thải Kim Liên (quận Đống Đa, Hà Nội) – một trong những trạm xử lý nước thải đô thị tập trung tiêu biểu, công nghệ bùn hoạt tính lơ lửng truyền thống (dạng AAO) bộc lộ nhiều hạn chế về khả năng khử nitơ, với hiệu suất xử lý tổng nitơ (TN) chỉ dao động trong khoảng 57% đến 60%. Đồng thời, hệ thống thường gặp khó khăn trong việc kiểm soát lắng bùn, hiện tượng trôi bùn và yêu cầu dung tích bể phản ứng lớn. Mặt khác, công nghệ màng sinh học chuyển động (MBBR - Moving Bed Biofilm Reactor) đã chứng minh được hiệu quả vượt trội trong việc tăng mật độ sinh khối và xử lý đồng thời chất hữu cơ lẫn chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, các loại vật liệu mang (giá thể) nhựa nhập khẩu như AnoxKaldnes K1, K3 có giá thành rất cao, dao động từ vài chục đến hàng trăm USD mỗi mét khối, tạo rào cản tài chính lớn khi nhân rộng ở Việt Nam.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là nghiên cứu chế tạo thành công vật liệu mang vi sinh chuyển động dạng đá rỗng thủy tinh (Supersol) từ phế liệu thủy tinh tái chế với chi phí thấp, đồng thời đánh giá khả năng ứng dụng của vật liệu này trong mô hình MBBR công suất 0,5 m³/ngày đêm nhằm nâng cao hiệu suất xử lý nitơ và chất hữu cơ trong nước thải đô thị. Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm trong giai đoạn 2017 - 2018 tại Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQG Hà Nội trên nguồn nước thải sinh hoạt thực tế tại Trạm xử lý nước thải Kim Liên. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc làm chủ công nghệ vật liệu sinh học nội địa, nâng hiệu suất xử lý tổng nitơ lên trên 78% và xử lý COD đạt trên 88%, giảm thiểu 50% chi phí đầu tư giá thể và mở ra giải pháp kinh tế tuần hoàn bền vững trong quản lý chất thải rắn và nước thải.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hai trục lý thuyết sinh học môi trường cốt lõi:

Thứ nhất là lý thuyết động học màng sinh học (Biofilm Kinetics) trong công nghệ MBBR (Moving Bed Biofilm Reactor) do Giáo sư Hallvard Ødegaard phát triển từ đầu thập niên 1990 tại Na Uy. Công nghệ này kết hợp ưu thế của quá trình bùn hoạt tính lơ lửng và màng vi sinh dính bám cố định. Khi các giá thể chuyển động không ngừng trong bể nhờ dòng sục khí hoặc khuấy trộn cơ học, vi sinh vật phát triển thành lớp màng dày đặc. Cấu trúc màng sinh học tạo ra sự phân tầng vi môi trường từ ngoài vào trong: lớp ngoài cùng tiếp xúc trực tiếp với nồng độ oxy hòa tan (DO > 2,0 mg/L) là nơi vi khuẩn tự dưỡng hiếu khí thực hiện oxy hóa amoni; lớp giữa có nồng độ oxy giảm dần (DO < 0,5 mg/L) tạo điều kiện cho vi khuẩn thiếu khí khử nitrat; lớp trong cùng sát bề mặt giá thể là điều kiện kỵ khí. Nhờ đó, hai quá trình nitrat hóa và khử nitrat có thể diễn ra đồng thời trong cùng một công trình phản ứng.

Thứ hai là lý thuyết chu trình chuyển hóa nitơ sinh học qua hai pha liên tiếp (Nitrification - Denitrification) theo mô hình Ludzack - Ettinger cải tiến (A/O). Quá trình nitrat hóa diễn ra qua hai bước do hai nhóm vi khuẩn tự dưỡng đặc hiệu đảm nhận:

  1. Vi khuẩn Nitrosomonas oxy hóa amoni thành nitrit: $$\text{NH}_4^+ + 1,5\text{O}_2 \rightarrow \text{NO}_2^- + 2\text{H}^+ + \text{H}_2\text{O}$$
  2. Vi khuẩn Nitrobacter tiếp tục oxy hóa nitrit thành nitrat: $$\text{NO}_2^- + 0,5\text{O}_2 \rightarrow \text{NO}_3^-$$ Quá trình này tiêu tốn 4,57 g O₂ cho mỗi gam N-NH₄⁺ chuyển hóa và làm giảm độ kiềm trong nước. Tiếp theo, quá trình khử nitrat diễn ra trong điều kiện thiếu khí (anoxic), nơi vi khuẩn dị dưỡng sử dụng nitrat làm chất nhận điện tử và cơ chất cacbon hữu cơ làm chất cho điện tử để khử nitrat thành khí nitơ tự do ($\text{N}_2$) thoát ra khí quyển, đồng thời bù lại khoảng 40% độ kiềm đã mất.

Nghiên cứu vận dụng hệ thống các khái niệm chuyên ngành then chốt gồm: Tải trọng diện tích bề mặt (Surface Area Loading Rate - SALR, tính bằng $\text{g COD/m}^2\cdot\text{ngày}$), Thời gian lưu nước (Hydraulic Retention Time - HRT), Nồng độ hỗn hợp chất rắn lơ lửng (MLSS), Chỉ số thể tích bùn (SVI), và Nhu cầu oxy hóa sinh học/hóa học (BOD₅/COD).

Phương pháp nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa công nghệ hóa vật liệu và kỹ thuật xử lý môi trường qua các bước chuẩn mực:

1. Cỡ mẫu và kỹ thuật lấy mẫu: Nguồn nước thải được thu nhận sau bể lắng sơ cấp tại Trạm xử lý nước thải tập trung Kim Liên (quận Đống Đa, Hà Nội). Mẫu nước đầu vào và đầu ra tại các ngăn phản ứng được lấy định kỳ 2 ngày một lần trong suốt quá trình vận hành liên tục 60 ngày. Tổng cộng hơn 60 lượt mẫu đại diện đã được thu thập và phân tích đồng thời theo phương pháp lấy mẫu tổ hợp nhiều thời điểm trong ngày nhằm phản ánh chính xác sự dao động tải lượng ô nhiễm thực tế của trạm.

2. Phương pháp chế tạo và lựa chọn vật liệu: Nghiên cứu sử dụng phế liệu thủy tinh thu gom từ sinh hoạt, đem nghiền mịn thành bột và phối trộn với xi măng poóc-lăng cùng các chất tạo bọt khí vô cơ ($\text{NaHCO}_3$ hoặc $\text{CaCO}_3$). Tổng cộng 6 mẫu công thức (ký hiệu từ M1 đến M6) được khảo sát với tỷ lệ bột thủy tinh, chất tạo bọt và xi măng thay đổi từ 80:10:10, 70:20:10 đến 60:20:20. Hỗn hợp sau khi tạo hình được sấy ở 100°C trong 24 giờ và nung ở nhiệt độ từ 700°C đến 900°C. Mẫu đá sau nung được đập nhỏ, mài tròn cạnh để tạo kích thước đồng đều từ 1,5 đến 2,0 cm, bề dày khoảng 1,0 cm.

3. Phương pháp phân tích đặc tính cấu trúc vật liệu: Sử dụng thiết bị Micromeritics Gemini VII 2390 Series để phân tích diện tích bề mặt riêng và thể tích mao quản theo phương pháp hấp phụ đẳng nhiệt nitơ lỏng BET (Brunauer - Emmett - Teller). Cấu trúc vi mô và kích thước lỗ rỗng được kiểm tra bằng kính hiển vi quang học độ phóng đại 100 lần.

4. Vận hành mô hình pilot và phân tích hóa lý nước: Hệ thống pilot 3 ngăn có tổng thể tích 406 lít (gồm ngăn thiếu khí 112 L với HRT 2 giờ, ngăn hiếu khí MBBR 182 L với HRT 6 giờ nạp 30% thể tích giá thể, và ngăn lắng 112 L diện tích bề mặt 0,32 m² với HRT 3,5 giờ) được vận hành ở lưu lượng 0,5 m³/ngày đêm. Tỷ lệ tuần hoàn nước và bùn duy trì ở mức $Q_R = 0,25\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$.

Các chỉ tiêu chất lượng nước được phân tích theo Tiêu chuẩn Quốc gia và Phương pháp chuẩn quốc tế Standard Methods (SMEWW):

  • pH, Nhiệt độ (25 - 35°C), và Oxy hòa tan DO (hiếu khí 3,1 mg/L, thiếu khí < 1,0 mg/L) đo trực tiếp hàng ngày bằng điện cực HandyLab 680 (Đức).
  • COD phân tích bằng phương pháp so màu quang phổ sau khi phá mẫu bằng dicromat (SMEWW 5220-D).
  • Tổng nitơ (TN) xác định theo TCVN 6638:2000 bằng bộ phân hủy mẫu DK6 và bộ chưng cất tự động UDK 142 (Ý).
  • Amoni ($\text{N-NH}_4^+$) phân tích theo TCVN 6179-1:1996; Nitrat ($\text{N-NO}_3^-$) phân tích theo SMEWW 4500-C.

Lý do lựa chọn chuỗi phương pháp trên là đảm bảo tính chuẩn xác, độ tin cậy cao của dữ liệu động học thực nghiệm, loại bỏ sai số hệ thống và tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình nghiên cứu thực nghiệm đã ghi nhận bốn phát hiện khoa học và công nghệ có giá trị ứng dụng cao:

Thứ nhất, tối ưu hóa thành công công thức chế tạo giá thể đá rỗng thủy tinh. Trong số 6 công thức thử nghiệm, mẫu M3 (phối trộn theo tỷ lệ trọng lượng 60% bột thủy tinh phế thải : 20% $\text{NaHCO}_3$ : 20% xi măng, nung 2 giai đoạn lên 700°C) cho thấy cấu trúc xốp tối ưu vượt bậc. Diện tích bề mặt riêng BET của mẫu M3 đạt 0,6661 m²/g (tương đương với diện tích hiệu dụng quy đổi đạt tới 611.100 m²/m³), cao hơn hẳn so với mẫu sử dụng phụ gia $\text{CaCO}_3$ (mẫu M4 chỉ đạt 0,1519 m²/g; M5 đạt 0,3378 m²/g). Thể tích lỗ rỗng của mẫu M3 đạt đỉnh 96,96%, khối lượng riêng đạt 1,09 g/cm³ – gần tương đương với khối lượng riêng của nước, tạo điều kiện lơ lửng và chuyển động linh hoạt hoàn hảo trong môi trường sục khí. Ảnh chụp kính hiển vi quang học cho thấy kích thước mao quản phân bố từ 0,01 mm đến vài milimét, tạo không gian lý tưởng cho vi sinh bám dính sâu bên trong lòng hạt giá thể.

Thứ hai, tăng cường vượt bậc hiệu quả loại bỏ Amoni ($\text{N-NH}_4^+$). Khi bổ sung 30% thể tích giá thể đá rỗng thủy tinh M3 vào ngăn hiếu khí của mô hình MBBR, hiệu suất oxy hóa amoni tăng từ mức 62,5% (ở mô hình bùn hoạt tính không có giá thể) lên đạt mức trên 88,4% đến 91,2%. Nồng độ $\text{N-NH}_4^+$ trong nước thải đầu vào trung bình khoảng 25 đến 32 mg/L đã giảm xuống dưới 3,0 mg/L ở dòng ra sau bể lắng, đạt yêu cầu xả thải nghiêm ngặt nhất.

Thứ ba, nâng cao đáng kể hiệu suất xử lý Tổng Nitơ (TN) và COD. Nước thải sinh hoạt tại Trạm Kim Liên có nồng độ TN đầu vào trung bình 40 mg/L và COD khoảng 145 - 225 mg/L. Ở hệ thống bùn hoạt tính truyền thống, hiệu suất khử TN chỉ đạt 57% đến 60% (nồng độ TN đầu ra còn 16 - 17 mg/L). Khi ứng dụng mô hình MBBR có giá thể M3, hiệu suất loại bỏ TN tăng vọt lên mức 78,5% đến 82,3%, nồng độ TN dòng ra giảm xuống còn dưới 8,5 mg/L. Đồng thời, hiệu suất xử lý COD của hệ thống đạt 88,2% đến 91,5%, nước đầu ra duy trì nồng độ COD dưới 20 mg/L, vượt trội so với hiệu suất xử lý 84% của trạm xử lý thực tế.

Thứ tư, độ bền cơ học và tính ổn định thủy lực vượt trội. Trong suốt 60 ngày vận hành liên tục dưới tác động của dòng khí sục mạnh (DO duy trì 3,1 mg/L), các hạt đá rỗng thủy tinh M3 giữ nguyên hình dạng, không bị mài mòn vỡ vụn, không làm tắc nghẽn lưới chắn hay đường ống bùn tuần hoàn. Lớp màng sinh học bám dính phát triển đồng đều, duy trì màu nâu sẫm đặc trưng của bùn hoạt tính khỏe mạnh và có khả năng phục hồi nhanh trước các biến động về tải lượng ô nhiễm đầu vào.

Thảo luận kết quả

Cơ chế nâng cao hiệu suất xử lý nitơ và chất hữu cơ của hệ thống MBBR sử dụng đá rỗng thủy tinh M3 được làm sáng tỏ qua sự tương tác giữa đặc tính vật liệu và quá trình động học vi sinh. Nhờ cấu trúc mao quản đa quy mô và độ rỗng lên tới 96,96%, giá thể M3 cung cấp diện tích bề mặt thực tế cao gấp hàng trăm lần so với các loại đĩa quay sinh học hoặc giá thể sợi truyền thống. Bề mặt vô cơ gồ ghề của đá thủy tinh có ái lực bám dính sinh học cao hơn đáng kể so với bề mặt trơn nhẵn của nhựa HDPE nguyên sinh.

Trong các báo cáo thực nghiệm, diễn biến nồng độ ô nhiễm được mô tả chi tiết thông qua các đồ thị hàm lượng COD, Amoni và Nitrat theo thời gian vận hành. Đồ thị biến thiên cho thấy sự chuyển hóa nhanh chóng của Amoni thành Nitrat tại bể hiếu khí MBBR, sau đó dòng nước tuần hoàn mang hàm lượng $\text{NO}_3^-$ này quay trở lại bể thiếu khí để gặp nguồn cacbon hữu cơ dồi dào từ nước thải đầu vào, giúp quá trình khử nitrat diễn ra với tốc độ tối đa.

Đồng thời, sự hiện diện của màng sinh học dày trên giá thể giúp kéo dài thời gian lưu bùn sinh học (SRT) thực tế mà không làm tăng tải lượng bùn lơ lửng trong bể lắng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các chủng vi khuẩn nitrat hóa (Nitrosomonas, Nitrobacter) vốn có tốc độ sinh trưởng rất chậm (thời gian nhân đôi từ 24 đến 36 giờ). Việc giữ lại sinh khối nitrat hóa cố định trong bể hiếu khí ngăn chặn hoàn toàn nguy cơ rửa trôi vi sinh vật khi hệ thống chịu tải lượng thủy lực cao. Khi so sánh với kết quả nghiên cứu của các tác giả quốc tế như Ødegaard (Na Uy, 2000) hay Wang (Trung Quốc, 2005), việc sử dụng 30% thể tích giá thể xốp M3 mang lại hiệu quả xử lý tương đương hoặc vượt trội hơn các dòng giá thể thương mại AnoxKaldnes K1/K3, trong khi giải quyết triệt để bài toán kinh tế về chi phí giá thể.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuyển giao và ứng dụng rộng rãi kết quả nghiên cứu vào thực tiễn xử lý nước thải đô thị tại Việt Nam, các khuyến nghị sau đây được đề xuất:

  1. Chuẩn hóa và mở rộng quy mô sản xuất vật liệu đá rỗng thủy tinh M3: Các doanh nghiệp sản xuất vật liệu môi trường và viện nghiên cứu cần phối hợp thiết lập dây chuyền nghiền, tạo hình và nung liên hoàn từ nguồn phế liệu chai lọ thủy tinh đô thị. Mục tiêu đặt ra là hạ giá thành sản xuất xuống dưới 12.000 VNĐ/kg và nâng công suất cung ứng đạt trên 50 tấn/tháng trong giai đoạn 2026 - 2027.

  2. Áp dụng nâng cấp các trạm xử lý nước thải đô thị hiện hữu: Ban Quản lý các dự án thoát nước và xử lý nước thải tại các đô thị (như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng) nên triển khai phương án bổ sung giá thể MBBR đá rỗng thủy tinh với tỷ lệ 30% - 35% thể tích vào các ngăn hiếu khí của các trạm xử lý đang bị quá tải (như Trạm Kim Liên, Trúc Bạch). Giải pháp này giúp nâng công suất xử lý nitơ thêm 30% đến 40% mà không cần xây dựng thêm công trình bể mới, hoàn thành mục tiêu nâng cấp trong vòng 12 đến 18 tháng.

  3. Tối ưu hóa quy trình vận hành và tiết kiệm năng lượng: Các đơn vị vận hành trạm xử lý cần áp dụng quy trình kiểm soát tự động nồng độ oxy hòa tan (duy trì DO ở mức 2,5 - 3,2 mg/L trong bể MBBR và DO < 0,5 mg/L trong bể thiếu khí) kết hợp điều chỉnh tỷ lệ tuần hoàn nước $Q_R = 50% - 100%$ lưu lượng đầu vào. Giải pháp này giúp tối ưu hóa hiệu suất khử nitrat đồng thời giảm 15% đến 20% chi phí điện năng tiêu thụ cho hệ thống máy thổi khí.

  4. Xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật cơ sở cho giá thể sinh học tái chế: Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Bộ Xây dựng cần sớm ban hành hướng dẫn kỹ thuật và khung tiêu chuẩn chất lượng đối với vật liệu mang vi sinh chế tạo từ chất thải rắn tái chế dùng trong công trình xử lý nước thải, tạo hành lang pháp lý thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn và công nghệ xanh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên sâu và hữu ích cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Kỹ sư thiết kế và công ty tư vấn môi trường: Cung cấp cơ sở tính toán thông số công nghệ (thời gian lưu nước HRT, tỷ lệ lấp đầy giá thể, diện tích bề mặt hiệu dụng SALR, lưu lượng khí cấp) để thiết kế mới hoặc cải tạo nâng cấp các trạm xử lý nước thải sinh hoạt đô thị, nước thải khu dân cư và tòa nhà thương mại.
  • Cán bộ quản lý và vận hành trạm xử lý nước thải: Nắm vững quy trình vận hành hệ thống MBBR kết hợp bùn hoạt tính, phương pháp khắc phục hiện tượng trôi bùn, kiểm soát chỉ số SVI và kỹ thuật nâng cao hiệu quả khử nitơ trong điều kiện tải lượng ô nhiễm biến động.
  • Học viên cao học, sinh viên và nhà nghiên cứu ngành Kỹ thuật Môi trường: Tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu chế tạo vật liệu xốp vô cơ, quy trình đo đạc diện tích bề mặt BET, phân tích động học màng sinh học và kỹ thuật vận hành mô hình pilot bán công nghiệp.
  • Doanh nghiệp sản xuất vật liệu và tái chế chất thải rắn: Khai thác giải pháp công nghệ biến rác thải thủy tinh khó phân hủy thành sản phẩm giá thể sinh học có giá trị thương mại cao, phục vụ thị trường xử lý nước đang tăng trưởng mạnh mẽ.

Câu hỏi thường gặp

1. Vật liệu đá rỗng thủy tinh M3 có ưu điểm gì vượt trội so với các loại giá thể nhựa MBBR truyền thống? Đá rỗng thủy tinh M3 có diện tích bề mặt riêng BET đạt 0,6661 m²/g (tương đương 611.100 m²/m³), vượt trội hơn nhiều so với giá thể nhựa HDPE chỉ đạt 500 - 800 m²/m³. Bề mặt khoáng vô cơ nhám ráp giúp vi sinh vật bám dính nhanh gấp 2 lần, không bị lão hóa bởi tia cực tím, độ bền cơ học cao và chi phí sản xuất thấp hơn từ 50% đến 60% so với giá thể nhập khẩu.

2. Tỷ lệ bổ sung giá thể vào bể hiếu khí bao nhiêu là tối ưu nhất? Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tỷ lệ chiếm chỗ tối ưu của giá thể là 30% đến 40% thể tích công tác của bể hiếu khí. Mức nạp này đảm bảo tăng sinh khối vi sinh vật lên gấp 2 - 3 lần mà vẫn duy trì trạng thái xáo trộn thủy lực tốt, không gây cản trở dòng chảy và không đòi hỏi tăng công suất máy thổi khí quá mức.

3. Đá rỗng thủy tinh có bị bào mòn tạo thành cặn cát gây hỏng bơm và tắc đường ống không? Không. Nhờ quá trình gia nhiệt nung kết tinh ở 700°C kết hợp chất liên kết xi măng và kỹ thuật mài tròn cạnh sắc trước khi nạp vào bể, đá rỗng thủy tinh M3 có độ liên kết cấu trúc vững chắc. Thử nghiệm vận hành liên tục trong 60 ngày với cường độ sục khí cao cho thấy vật liệu không bị vỡ vụn hay phát sinh bùn cát gây ảnh hưởng đến hệ thống bơm hồi lưu.

4. Nước thải sau xử lý bằng mô hình MBBR đá rỗng thủy tinh có đạt chuẩn xả thải không? Có. Nước thải sau xử lý tại mô hình pilot đạt chuẩn Cột A theo QCVN 14:2008/BTNMT về nước thải sinh hoạt (với COD < 20 mg/L, Amoni < 3 mg/L, Tổng Nitơ < 8,5 mg/L, và TSS < 10 mg/L), đủ điều kiện xả thải an toàn vào các nguồn nước mặt nhạy cảm hoặc tái sử dụng cho mục đích tưới cây, rửa đường.

5. Chi phí đầu tư chế tạo giá thể từ phế liệu thủy tinh ước tính khoảng bao nhiêu? Do tận dụng nguồn phế liệu thủy tinh thu gom tại địa phương kết hợp phụ gia thông dụng ($\text{NaHCO}_3$ và xi măng), giá thành sản xuất đá rỗng thủy tinh M3 ước tính chỉ dao động từ 10.000 đến 15.000 VNĐ/kg, giúp tiết kiệm hàng trăm triệu đồng cho mỗi module công trình xử lý quy mô vừa và lớn so với giá thể nhập ngoại.

Kết luận

  • Luận văn đã chế tạo thành công vật liệu mang vi sinh chuyển động dạng đá rỗng thủy tinh (Supersol) ký hiệu M3 từ phế liệu thủy tinh với diện tích bề mặt riêng BET đạt 0,6661 m²/g, độ rỗng 96,96% và khối lượng riêng 1,09 g/cm³.
  • Thiết lập và vận hành thành công mô hình pilot MBBR công suất 0,5 m³/ngày đêm xử lý nước thải sinh hoạt thực tế tại Trạm xử lý nước thải Kim Liên với tỷ lệ nạp 30% giá thể.
  • Nâng cao vượt trội hiệu suất xử lý Amoni lên trên 88% và Tổng Nitơ lên trên 78% - 82%, khắc phục triệt để nhược điểm xử lý nitơ kém của công nghệ bùn hoạt tính truyền thống.
  • Đảm bảo độ bền cơ học và tính ổn định sinh học của màng vi sinh bám dính, không gây bào mòn hay phát sinh chất thải thứ cấp độc hại trong quá trình vận hành.
  • Đóng góp giải pháp công nghệ kép: vừa giải quyết bài toán tái chế chất thải rắn thủy tinh, vừa nội địa hóa vật liệu mang xử lý nước thải với chi phí tiết kiệm hơn 50%.

Công trình đã khẳng định tính khả thi cao về cả mặt khoa học, kỹ thuật và kinh tế. Bước tiếp theo, nhóm tác giả định hướng mở rộng quy mô thử nghiệm lên hệ thống pilot 5 - 10 m³/ngày đêm tại các trạm xử lý đô thị tập trung. Kính mời các nhà khoa học, chuyên gia môi trường và quý doanh nghiệp quan tâm liên hệ, trao đổi học thuật và hợp tác triển khai ứng dụng công nghệ vào thực tiễn.