CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ GIA CÔNG CNC VÀ TIỆN CNC 1.1 Lịch sử phát triển vè công nghệ CAD/CAM – CNC Hình 1.1 Sơ đồ lịch sử phát triển công nghệ CAD/CAM-CNC Năm 1952 máy điều khiển số NC (Numerical Control) đầu tiên ra đời và chương trinh gia công được lập trình theo ngôn ngữ APT (Automatically Programmed Toolls) do viện nghiên cứu Masschusetts tạo ra. Không lâu sau đã bắt đầu xuất hiện khái niệm CAD (Computer Aided Design). Vào những năm 70 các hệ điều khiển CNC (Computer Numerical Control), ngoài các chức năng riêng của hệ NC thì hệ CNC còn có thể thực hiện được nhiều chức năng khác nhau, nó có bộ phận lưu giữ chương trình và có thể thay đổi được chương trình gia công. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tin học với sự xuất hiện của các máy vi tính hiện đại cho khả năng ghép nối quá trình thiết kế với quá trình gia công thành một dự án tổng thể với sự trợ giúp củ a máy vi tính đã tạo ra công nghệ CAD/CAM (Computer Aided Manufacturing) và không lâu sau đó là các hệ thống sản xuất linh hoạt FMS (Flexible Manufacturing System).
Hệ thống sản xuất tích hợp CIM (Computer Intergrated Manufacturing) 13 bắt đầu xuất hiện từ những năm 80. Mục tiêu của CIM là gia công tự động linh hoạt, nó cho khả năng gia công đạt hiệu quả kinh tế cao ngay cả khi số lượng gia công không lớn.2 Tình hình khai thác, sử dụng máy gia công CNC tại Việt Nam hiện nay Ở Việt Nam chúng ta, trước đây hệ thống sản xuất cơ khí quá lạc hậu, năng suất thấp, chất lượng kém nhưng giá thành lại cao, sản xuất chưa đáp ứng được thị trường trong nước chứ đừng nói gì đến vươn ra thị trường ngoài nước. Nhận thức rõ vấn đề đó, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI ( 1986) với chủ trương đổi mới, nhiều chính sách ra đời đã tạo cho doanh nghiệp sự chủ động, sáng tạo…Rất nhiều doanh nghiệp trong nước và liên doanh với nước ngoài đã đưa máy gia công có mức độ tự động hoá cao vào sản xuất. Ngành cơ khí nước ta nói riêng và tất cả các ngành khác nói chung đã có bước phát triển mới.
Sản phẩm chế tạo ra đã có chất lượng cao hơn, thời gian chế tạo nhanh hơn. Tuy nhiên, tìm hiểu một số doanh nghiệp sử dụng kỹ thuật CNC thì thấy có một số ưu, nhược điểm sau: Ưu điểm: Cỏc mỏy tiện CNC này cú những ưu điểm của điều khiển số so với các máy tiện truyền thống như: Khi gia công trên máy tiện CNC các chi tiết sẽ có độ chính xác cao, gia công được chi tiết phức tạp, quá trỡnh điều khiển dễ dàng, các máy tiện CNC khi được ứng dụng ở trỡnh độ cao sẽ là bộ phận của hệ thống sản xuất FMS hay CIM. Cỏc mỏy tiện CNC làm cho quỏ trỡnh sản xuất thờm linh hoạt, mọi thao tỏc đều được tự động hóa. Nhược điểm: - Chủng loại máy, nguồn gốc máy đa dạng nhưng chủ yếu là các máy của : Đức, Nhật, Trung quốc, Đài loan.
Đáng chú ý là có một số máy không rõ nguồn gốc vì việc mua bán máy qua nhiều trung gian, tài liệu thất lạc. - Hệ điều khiển của máy chủ yếu là FANUC, HEIDENHAIN, MITSUBISHI.; - Việc chuyển giao kỹ thuật từ các chuyên gia nước ngoài cho đối tác tại Việt Nam không đầy đủ. Chủ yếu chỉ hướng dẫn lập trình cơ bản và thao tác vận hành máy; 14 - Ngoại trừ một số doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong sản xuất có mặt hàng truyền thống thì chương trình gia công CNC được chuẩn bị trước từ nước ngoài đưa vào còn lại chủ yếu do người vận hành máy lập trình trực tiếp trên máy; - Một số doanh nghiệp chưa thực sự chú ý đến khai thác máy một cách hiệu quả, thời gian máy hoạt động không nhiều; - Việc sử dụng chế độ cắt chủ yếu là theo kinh nghiệm như khi thực hiện gia công trên máy vạn năng nên chưa thể nói là đã hợp lý hay chưa?. Các máy gia công sử dụng kỹ thuật CNC thường được nhập ngoại với giá thành rất cao, chính vì lẽ đó, hiệu quả khai thác sử dụng máy còn hạn chế, giá thành sản phẩm cao vì mức khấu hao lớn.
Thực tế đó cho thấy việc nghiên cứu xây dựng chế độ cắt tối ưu cho các máy CNC nói chung và máy tiện CNC nói riêng là việc làm cần thiết.3 Nguyên lý gia công điều khiển số CNC 1.1 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của các máy gia công CNC Máy gia công CNC (CNC machine tool) là những thiết bị cơ điện tử phức tạp, đắt tiền, hoạt động theo các nguyên lý cơ khí và vật lý kỹ thuật (gia công tiện, phay, khoan, mài, laser, tia lửa điện, .; đo lường; gá đặt; điều chỉnh, v.) và được điều khiển bằng chương trình số (NC Program) với hệ CNC (Computerized Numerical Control). Gia công chi tiết cơ khí trên các máy điều khiển theo chương trình số CNC có những đặc điểm sau: - Mức độ tự động hoá cao, toàn bộ quá trình hoạt động của máy để gia công chi tiết do máy tính điều khiển; - Tốc độ dịch chuyển của bàn máy cao; - Tốc độ quay của trục chính cao và có thể điều chỉnh vô cấp; - Độ chính xác gia công cao (sai lệch kích thước có thể nhỏ hơn 0,001 mm); - Năng suất gia công cao ( có thể gấp 3 lần máy thông thường); - Tính linh hoạt cao, thích nghi nhanh với sự thay đổi về kết cấu sản phẩm; 15 - Mức độ tập trung nguyên công cao (gia công nhiều bề mặt trong một lần gá đặt); - Có thể gia công được những bề mặt phức tạp mà các máy khác khó hoặc không thực hiện được (các bề mặt dạng 3D); - Khả năng thực hiện lặp lại các công việc gia công (chương trình được sử dụng nhiều lần); - Chuẩn bị công nghệ để gia công trên máy CNC khác với máy thường là phải lập trình NC để điều khiển máy gia công theo ngôn ngữ phù hợp với máy và tuỳ thuộc vào hệ điều khiển máy (FANUC, HEIDENHAIN, MITSUBISHI, v.); - Mức độ tự động hoá cao nên vận hành đơn giản nhưng bảo dưỡng và sửa chữa phức tạp. - Không thích hợp với trình độ sản xuất thấp. - Giá thành cao nên mức khấu hao lớn.
Một máy gia công CNC ( hay còn gọi là một hệ thống gia công ) theo nguyên lý điều khiển số có sáu thành phần cơ bản sau: 1/ Chương trình gia công NC ( NC program) : Được viết theo ngôn ngữ lập trình của máy thể hiện dưới dạng các số và chữ cái qui ước. Hệ CNC có chức năng tạo lập các tín hiệu điều khiển cần thiết cho quá trình gia công như điều khiển trục chính quay, điều khiển cho dao dịch chuyển trong quá trình cắt theo đường thẳng, cung tròn, chu trình. phù hợp với biên dạng gia công. Ngoài ra hệ CNC còn phải tạo lập các lệnh NC để thực hiện các chức năng khác như thay dụng cụ cắt, đóng mở chất làm mát.
2/ Thiết bị nạp chương trình (Program Input Device) Thiết bị nạp chương trình vào máy thông thường là bàn phím gắn theo máy. Các máy gia công hiện đại có thể cho phép nạp chương trình có sẵn vào máy theo đường cáp truyền dữ liệu hoặc đĩa mềm. 3/ Hệ điều khiển máy (MCU = Machine Control Unit) Hệ điều khiển máy hoạt động trên cơ sở phần cứng (hardware) và phần mềm (software). Phần cứng ở đây là hệ điều khiển và lập trình gia công CNC do các hãng 16 cung cấp như hệ FANUC, MITSUBISHI, HEIDENHAIN.
Phần mềm điều khiển và lập trình CNC gồm có ba khối chính, đó là : Phần mềm vận hành, phần mềm giao diện, phần mềm ứng dụng. Phần mềm vận hành bao gồm 4 chương trình sau: + Chương trình giám sát, còn gọi là chương trình vận hành hoặc dẫn dắt để quản trị khâu vận hành, khởi động các phần mềm khác và tạo điều kiện truyền thông (communication) tới các thiết bị nhập – xuất + Chương trình logic (logic program) thường được coi là chương trình điều khiển, để giải mã (decods) và nội suy (interpolates) các chỉ dẫn NC nhằm tạo lập các tín hiệu điều khiển dịch chuyển cho từng trục điều khiển + Chương trình biên tập (editor program), còn gọi là chương trình dịch vụ hoặc vận hành. Nó cho phép người vận hành nhập, xuất, sửa đổi hay xoá chương trình gia công chi tiết và hiển thị trên màn hình. + Chương trình chuẩn đoán (diagnostic program), bao gồm nhiều chương trình con chuẩn đoán khác nhau để phát hiện các lỗi có trong hệ CNC, số hiệu của lỗi và thông báo lỗi được hiển thị trên màn hình.
4/ Hệ khởi động ( Drive System) 5/ Máy gia công (Machine Tool), còn gọi là máy công tác như máy tiện, máy phay, máy khoan. Đây là các máy gia công thực hiện điều khiển theo chương trình số. Ở máy CNC, phần lớn các nội dung chuẩn bị công nghệ có thể thực hiện tách rời máy gia công, ví dụ : chuẩn bị công nghệ và lập trình NC ở văn phòng với sự trợ giúp của máy tính, sau đó truyền tải chương trình NC đã lập và kiểm định tới máy CNC tại xưởng để thực hiện 17 Sơ đồ nguyên lý hoạt động của máy tiện CNC 2D-SL-253 với các trục NC là X và Z (Hình 1. Cụm trục chính máy 6.
Trục vít me bi 2. Động cơ chạy dao theo trục X 3. Động cơ trục chính 4. Băng dẫn hướng dọc trục Z Hình 1.2: Sơ đồ nguyên lý hoạt động của máy tiện CNC 2D 6/ Hệ phản hồi (Feedback System).
Việc dịch chuyển theo trục X, trục Z của dao hay chuyển động quay của trục chính liên tục được xác định. Các thông tin đó được hệ phản hồi, phản ánh cho hệ điều khiển trung tâm để bộ xử lý trung tâm xử lý số liệu và tiếp tục điều khiển đến khi nào đạt giá trị cần thiết theo chương trình thì kết thúc tín hiệu điều khiển đó.2 Hệ điều khiển máy gia công CNC 1.1 Các hệ thống điều khiển a. Điều khiển NC 18 Hệ thống điều khiển NC (Numerical Control) là mạch điện tử. Thông tin vào chứa trên băng từ hoặc băng đục lỗ, thực hiện chức năng theo từng khối, khi khối trước kết thúc, máy đọc tiếp các khối lệnh tiếp theo để thực hiện các dịch chuyển cần thiết.
Các máy NC chỉ thực hiện các chức năng như: Nội suy đường thẳng, nội suy cung tròn, chức năng đọc theo băng. Các máy NC không có chức năng lưu trữ chương trình. Hệ điều khiển NC có một số nhược điểm là tính linh hoạt kém. Khi cần thay đổi cấu hình chi tiết thì phải thay đổi chương trình gia công.