MỞ ĐẦU 1- Tính cấp thiết của đề tai Các tuyến đường giao thông ở Tây Nguyên thường chạy qua các đới sét hóa (đới 1 hoặc đới 2) của vỏ phong hóa trên đá xâm nhập Granit và đá Biến chất. Các mái dốc cạnh đường giao thông chủ yếu được cấu tạo bởi đất loại sét thuộc các vỏ phong hóa nói trên. Dat loại sét rất nhạy biến đổi khi tiếp xúc với nước. Vào mùa mưa nhiều đôi dốc cao phía ta luy dương thường bi sat lở, đất đỗ ra đường gây ach tặc giao thông và nhiều khi gây tốn thất về người và tài sản của dân cư.
Do đó đề tài được chon là: “Nghiên cứu xác định chiếu cao giới hạn an toàn ồn định trượt của bờ dốc trên đất tàn- sườn tích thuộc vỏ phong hóa đá xâm nhập Granit và đá Biến chất ở Tây Nguyên ”. 2- Mục đích nghiên cứu: Mức độ 6n định bờ dốc phụ thuộc vào chiều cao (h), độ dốc mái (1:m) và đặc trưng cơ lý của đất trong bờ dốc. Do vậy mục đích nghiên cứu sẽ là: Nghiên cứu sự thay đổi các đặc trưng cơ lý (y, @, C) theođ 6 âm (W) của hai loại đất tàn- sườn tích thuộc vỏ phong hóa trên đá xâm nhập Granit và đá Biến chất ở Tây Nguyên. Căn cứ theo kết quả nghiên cứu được về đất, sẽ tính toán xác định chiều cao giới hạn (h) của bờ dốc, có độ dốc (1:m) khác nhau theo sự bién đổi độ âm (W) của đất trong bờ dốc.
3- Phương pháp nghiên cứu: Tham khảo những kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước [5]I6][10]I11][12][13][15]. thu thập các số liệu thí nghiệm về đặc trưng co lý của hai loại đất được chọn làm đối tượng nghiên cứu ở Tây Nguyên dé xử lý thống kê tim quan hệ giữa các đặc trưng (yw. , C) theo độ âm (W) của dat. Nghiên cứu lý thuyết của các tác giả trong và ngoài nước thường được sử dụng dé tính toán 6n định mái dốc, lựa chọn phương pháp thích hợp để tính toán xác định chiều cao giới hạn (h) phụ thuộc vào độ dốc (1:m) và phụ thuộc vào đặc trưng cơ lý của đất trong bờ dốc.
4- Y nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn: Thu thập tài liệu, thống kê tìm được quan hệ biến đôi giữa dung trọng tự nhiên (yw), các thông số chống cat (ọ, C), theo độ âm (W) của hai nhóm dat được nghiên cứu. Khi mưa độ 4m (W) của đất tăng làm cho dung trọng tự nhiên (y„) của đất tang, các thông số chống cắt (@, C) giảm, gây mat an toàn chống trượt của bờ dốc. 10 Kết quả tính toán ở chương III cho thấy rằng: Cùng một hệ số an toàn yêu câu chọn trước (K=1.4) chiều cao giới hạn của bờ dốc (h) phụ thuộc vào độ dốc (1:m) và các đặc trưng cơ lý của đất trong bờ dốc. Kết quả nghiên cứu trong luận văn là tài liệu tham khảo tốt cho các cơ quan khảo sát, thiết kế thi công và quản lý những tuyến đường giao thông đi qua vỏ phong hóa trên đá xâm nhập và đá Biến chất ở Tây Nguyên.
11 CHUONG I DAC TRUNG CO LY CUA DAT TAN SUON TICH (edQ) THUOC VO PHONG HOA TREN DA XAM NHAP VA DA BIEN CHAT O TAY NGUYEN. Tây nguyên Việt Nam bao gồm các tinh: Lam Đồng, Dak Nong, Dak Lak, Gia Lai, Kon Tum. Tây Nguyên là vùng dat giàu tiềm năng phát triển. Sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước nói chung và khu vực Tây Nguyên nói riêng đòi hỏi phải xây dựng nhiều tuyến đường giao thông xuyên tỉnh (hình 1-1).
Đường Hồ Chí Minh, nối dai các tỉnh Tây Nguyên, một tuyến đường không chỉ có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp CNH-HDH, phát triển kinh tế - xã hội va đảm bảo an ninh quốc phòng khu vực miễn trung Tây Nguyên. mà còn là một tuyến đường lịch sử, găn liền với sự nghiệp giải phóng đất nước. Quốc lộ 14 chạy dai từ Quảng Nam, qua Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lak, Dak Nong, dén Tp. Quốc lộ 19 nối từ Pleiku (Gia Lai) với Quy Nhơn.
Quốc lộ 24 nói liền giữa Kon Tum đến Ba To (Quảng Ngãi). Quốc lộ 25 nói từ Pleiku (Gia Lai) với Tuy Hòa (Phú Yên). Quốc lộ 26 nối Đắk Lak, (Buôn Mê Thuộc) đi Nha Trang (Khánh Hòa). Quốc lộ 27 nối từ Da Lạt (Lâm Đồng) với Dak Lak (Buôn Mê Thuộc).
Quốc lộ 28 nối từ Đà Lat (Lâm Đồng) với Dak Nông. Quốc lộ 40 nối Xayden-Antoum (Lao), cửa khẩu Pờ Y với quốc lộ 14. Nhiều tuyến đường nối liền tỉnh ly đến các huyện ly và các vùng sau, vùng xa, nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống. Ngoài ra còn có nhiều tuyến giao thông phục vụ các công trình thủy lợi, thủy điện ở các tỉnh Tây Nguyên.
Các tuyến đường ô tô chạy ven theo các chân đôi hoặc các đèo cao được hình thành bởi các loại đất có nguồn gốc khác nhau. Theo tài liệu nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Việt Ky và Nguyễn Văn Tuan [6] vỏ phong hóa ở Tây Nguyên gồm các loại chủ yếu sau đây: Vỏ phong hóa trên đá xâm nhập; Vỏ phong hóa trên đá phún trào: Vỏ phong hóa trên đá biến chất; Vỏ phong hóa trên đá trầm tích. 12 Trong luận văn, tác giả chỉ nghiên cứu hai loại tàn - sườn tích trên đá xâm nhập và tàn - sườn tích trên đá Biên chât.1 VO PHONG HOA TREN ĐÁ XÂM NHAP Theo tai liệu [6] vỏ phong hóa trên đá xâm nhập phan bố gồm hai dải lớn: Dai ở ria phía đông, kéo liên tục Tu Mo Rong xuống Krông Pa, Chu Yang 5m. Dai ở phía Tây Trường Sơn từ Dak Glei xuống Chư Prong, vòng qua Krông Pa theo hướng đông.
Noi đây pho biến là vỏ phong hóa trên đá xâm nhập axit. Bè day từ 5m đến 10m, lớn nhất là ở vùng Mang - Den đạt 50+80m trên đá Granit migmatit phức hệ chu lai, nhỏ nhất là ở sườn dốc chỉ 0,5+2,5m. Không kể lớp phủ thực vật, lớp trên bị phong hóa hoàn toàn biến thành sét, sét pha có các đặc trưng về thành phần khoáng vật, hóa học và tính chất cơ lý (bảng 1-1). 13 ` Hình 1-1 B an do khu Đực Hgh ién CN 14 Bang 1-1, Các đặc trưng về thành phan khoáng vật, hóa học và tính chất co lý của phong hóa trên đá xâm nhập axit ở đới phong hóa triệt để.
Thạch anh, kaolinit, Thanh phan. geotit, hydromica, khoáng vat chu yêu haluazit-felspat, SIO; (70-80%), Al,O3 y 7%) San | 3-5% Cát | 31-54% Thành phần hạt Bui | 17-26% Sét | 24-40% Dung trong tu nhién 1.83g/cm” Déo mêm đến dẻo cứng Trạng thái (B<0 đến 0.64) Góc ma sát trong 12°— 18° Lực dính 0.32KG/emˆ nm kp ae Trung bình (a;.006- Hệ số nén lún 0.07cmÊ /Kg) 1⁄2 SU THAY DOI DUNG TRONG TỰ NHIÊN (y„) VÀ CAC THONG SO CHONG CAT (9, C) THEO DO AM (W) CUA DAT TAN- SUON TICH TREN DA XÂM NHAP Ở TAY NGUYEN. Dé nghiên cứu van dé nay, tac gia sử dụng hai nguôn tài liệu: Nguồn tài liệu chính là các số liệu thu được từ bãi dat thí nghiệm do TS Ngô Tan Dược chủ trì [5]. Nguồn tài liệu thứ hai là kết quả thí nghiệm b6 sung lay mẫu ở ngoài phạm vi bãi thí nghiệm và số liệu đã công bố của các tác giả khác [2][10][15].
Bãi đất thí nghiệm được chọn tại Km 128 Quốc lộ 19 nối giữa Pleiku (Gia Lai) với Quy Nhơn cách An Khê 48 Km. Các chỉ tiêu tính chất vật lý của những mẫu thí nghiệm ở khu đất Tàn- sườn tích trên đá xâm nhập Granite được ghi trong (bang 1-2). Hàm lượng hat d > 2mm biến đổi trong phạm vi (2. Hàm lượng hạt sét chiếm (18.
Chỉ số dẻo I;=(19. T 1 số khe rong e, = 0. Độ âm vào mùa khô W=(16.D Ất Ở trạng thái khô, vào mùa mưa độ âm của đất tăng dan, độ bão hòa nước tăng, dung trọng tự nhiên của đất tăng lớn. Các thông số chống cắt của đất tự nhiên bị giảm nhỏ.
15 Kết quả thí nghiệm xác định các thông số chống cat (@, C) của các mẫu đất Tan- sườn tích trên đá xâm nhập Granite theo sự thay đổi độ âm (W) quanh năm ở Tây Nguyên được tập hợp (bang 1-3). độ bão hòa nước (G) của các mẫu dat. Kết quả thí nghiệm ghi trong (bảng 1-3) được biểu diễn băng đồ thị trên các hình: Hình 1-2: Sự tăng dung trọng tự nhiên (y„) do sự tăng độ 4m (W) của đất trong quá trình ngắm nước. Hình 1-3: Sự giảm góc ma sát trong @) do s ự tăng độ âm (W) của đất trong quá trình ngắm nước.
Hình 1-4: Sự giảm lực dính (C) do sự tăng độ 4m (W) của đất trong quá trình ngắm nước. Theo số liệu thông kê của TS. Lê Thanh Bìnhđ ược công bố trong tài liệu [2] (bảng 6 trang 679, tuyển tập kết quả Khoa học va Công nghệ số 11 năm 2008 của Viện Khoa học Thủy Lợi Miền Nam), tác giả trích dẫn (bảng 1-4). Theo số liệu đất lớp một trong vỏ phong hóa trên đá xâm nhập Granite có dung trọng khô biến đổi trong phạm vi y, = 1.
Dat ở các mỏ vật liệu dùng đắp đập ở H’ranam [15] có dung trọng khô tự nhiên y¿= 1. Tại bốn điểm khảo sát theo dọc bờ dốc Quốc 16 19, lớp (edQ) trên nền đá xâm nhập Granite có y, = 1. Từ các số liệu trên có thể nhận xét rằng: lớp sét hóa thuộc lớp (edQ) trên nên đá xâm nhập Granite có dung trọng khô biến đổi trong phạm vi y, = 1.48 T/m? va độ ẩm W thay đổi theo thời đoạn khảo sát, bién đổi trong phạm vi W = 25+33. Bãi đất được chọn để theo dõi lấy mẫu thí nghiệm theo thời gian có dung trọng khô biến đổi trong phạm vi hẹp y, = 1.39 T/m (bảng 1-2), nhưng cũng nằm trong phạm vi dung trọng khô của lớp đất được nghiên cứu chỉ khác ở chỗ: độ âm (W) của lớp dat được thống kê dựa theo số liệu khoan khảo sát của các công trình thực tế.
Công tác khoan khảo sát thường thực hiện vào mùa khô nên độ âm của đất chi biễn đổi trong phạm vi hẹp W = 25. Mục đích của luận văn là nghiên cứu sự biến đổi (yy, @, C) theo độ 4m quanh năm ở Tây Nguyên. Công tac lay mẫu thí nghiệm được thực hiện cả trong mùa khô và mùa mưa nên độ âm của đất thay đổi trong phạm vi rộng W = 16+39% (bảng 1-3). Các số liệu (yw.
Sự bién đổi (y„. @, C) cũng nằm trong xu thé chung với kết quả thí nghiệm của đất ở bãi có diện tích hẹp nhưng chỉ ở trong phạm vi độ âm thực tế khảo sát.