Chương 1 trình bày tổng quan về vật liệu nano bạc, các phương pháp chế tạo; tổng quan về tình hình nghiên cứu chế tạo nano bạc bằng dịch chiết thực vật. Chương 2 trình bày thực nghiệm và các phương pháp nghiên cứu. Chương 3 trình bày kết quả nghiên cứu chế tạo hạt nano bạc sử dụng dịch chiết búp mít, các tính chất đặc trưng của vật liệu chế tạo và khả năng kháng khuẩn của nó. Giới thiệu về vật liệu nano kim loại Theo Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế (ISO) định nghĩa về vật liệu nano là các cụm nguyên tử hoặc phân tử có kích thước nano nằm trong phạm vi khoảng từ 1 nm đến 100 nm (ISO 2015a).
Trong giới hạn dưới (< 1 nm) của kích thước nano, các nguyên tử và phân tử tồn tại riêng lẻ và không được coi là vật thể nano (nano-objects). Trong các giới hạn trên, các vật thể vượt quá kích thước nano đo được từ 100 nm đến 1 µm được phân loại là các hạt siêu nhỏ. Vật thể nano sở hữu ít nhất một chiều bên ngoài (có nghĩa là chiều cao, chiều dài và chiều rộng), tất cả đều được đo trong phạm vi nano (< 100 nm). Trong những điều kiện này, các vật thể nano có thể tồn tại ở các kích thước và hình dạng khác nhau.1 Phân loại vật liệu nano Hình dạng cơ bản của vật thể nano bao gồm tấm nano (một chiều bên ngoài), sợi nano (hai chiều bên ngoài) và hạt nano (ba chiều bên ngoài) (ISO 2015b).
Phân loại vật liệu nano dựa trên việc xác định kích thước lần đầu tiên được phát triển bởi Gleiter năm 2000 [16]. Vì việc xác định kích thước của vật liệu nano không tính đến các cấu trúc như fulleren, ống nano và hoa nano, nên việc xác định kích thước của vật liệu nano sau đó đã được mở rộng thành các cấu trúc nano 0D, 1D, 2D và 3D. Vật liệu nano được phân loại dựa trên kích thước của chúng, chứa các cấu trúc hạt nano sau: Cấu trúc nano 0D là các chấm lượng tử (các hạt được xếp thành mảng đồng nhất), các hạt nano không đồng nhất, lõi - vỏ, hình cầu rỗng, và fulleren. Cấu trúc nano 1D là dây nano.
Cấu trúc nano 2D là các tấm nano. Các cấu trúc nano này chỉ có một chiều trong kích thước nano. Cấu trúc nano 3D là các quả cầu nano. Tăng diện tích bề mặt so với vật liệu nano 0D, 1D và 2D, do các hạt có độ xốp cao.
Một số cấu trúc hình thái của vật liệu nano cho từng kích thước được trình bày dưới đây trong hình 1. Tính chất của vật liệu nano phụ thuộc vào kích thước của chúng. Sự gia tăng tỷ lệ bề mặt trên thể tích, làm bộc lộ các nguyên tử trên bề mặt, dẫn đến khả năng phản ứng cao hơn và do đó cải thiện tính chất vật liệu. Đây cũng là điều làm cho vật liệu nano trở nên độc đáo so với các vật liệu dạng khối của 4 chúng.
Những cải tiến chủ yếu được quan sát thấy ở các đặc tính liên quan đến tính chất quang học, xúc tác và tính chất điện. Sau đây, các tính chất quang học của các hạt nano kim loại sẽ được thảo luận. Vật liệu nano 0D Vật liệu nano 1D Vật liệu nano 2D Vật liệu nano 3D Hình 1.1: Phân loại vật liệu nano dựa trên kích thước. 0D: Chấm lượng tử, hạt nano, lõi-vỏ.
1D: Thanh nano, sợi nano, ống nano. 2D: Tấm nano, vách nano, mảnh nano. 3D: Bóng nano, Nón nano, hoa nano. Tính chất quang học trong vật liệu nano Trong cơ học lượng tử, các đặc tính phụ thuộc vào kích thước của vật liệu nano được giải thích bằng hiệu ứng giam giữ lượng tử.
Hiệu ứng này được quan sát thấy trong những gì tương ứng với các chấm lượng tử, dây lượng tử và giếng lượng tử, là chất trung gian của vật liệu bán dẫn khối và các phân tử hoặc nguyên tử đơn lẻ. Các điện tử của giếng lượng tử, dây lượng tử và chấm lượng tử lần lượt bị giới hạn trong một, hai hoặc ba chiều [17]. Năng lượng điện tử tăng lên làm tăng cường độ giam giữ điện tử và đồng ý với 1D > 2D > 3D, vì sự giam giữ điện tử của giếng lượng tử là yếu nhất. Mức năng lượng điện tử trong chấm lượng tử là rời rạc và không liên tục như trong vật liệu bán dẫn khối.2: Hiệu ứng giam giữ lượng tử.
Sự chuyển đổi từ các mức năng lượng liên tục trong các vật liệu bán dẫn khối sang các mức năng lượng rời rạc trong các chấm lượng tử bằng cách giảm kích thước hạt. Như thể hiện trên hình 1.2, sự chuyển đổi từ sự giam giữ điện tử liên tục sang rời rạc làm tăng khoảng cách vùng cấm của điện tử, và do đó hạn chế sự chuyển động của các điện tử. Do đó, khi kích thước tinh thể nano giảm, năng 6 lượng vùng cấm tăng, và do đó phát ra năng lượng lớn hơn do sự tái kết hợp lỗ trống điện tử. Hiệu ứng quang học cũng được quan sát thấy trong các hạt nano kim loại, và được gọi là cộng hưởng Plasmon bề mặt (SPR).
Hiện tượng này xảy ra khi một điện trường bên ngoài (ví dụ như các photon) được đặt vào, do đó làm phát sinh các dao động chung của các điện tử hóa trị tự do. Vì các electron là các hạt cơ bản mang điện, các dao động từ các electron hóa trị sẽ tạo ra điện trường. Do đó, sự cộng hưởng của điện trường từ nguồn sáng và các điện tử hóa trị gây ra cái gọi là SPR trên bề mặt hạt nano kim loại. Việc chiếu xạ các hạt nano có kích thước nhỏ hơn bước sóng của chùm ánh sáng tới sẽ làm lệch điện trường gây ra sự phân cực bề mặt của các hạt nano kim loại.
Đây được gọi là hiệu ứng cộng hưởng Plasmon bề mặt cục bộ (LSPR), được minh họa trên hình 1.3: Hiệu ứng cộng hưởng Plasmon bề mặt cục bộ của các hạt nano kim loại. SPR phụ thuộc vào tính chất điện môi của kim loại, môi trường phân tán, mức độ kết tụ của các hạt cũng như kích thước và hình dạng của hạt. SPR trong các hạt nano kim loại xảy ra chủ yếu trong vùng cực tím (UV) của phổ điện từ, trong khi ở một số kim loại (ví dụ như vàng (Au), bạc (Ag) và đồng (Cu)), SPR dịch chuyển về phía vùng khả kiến. Trong trường hợp hạt nano vàng hình cầu, SPR xuất hiện trong khoảng 520 - 550 nm, tương ứng với màu đỏ ở ánh sáng nhìn thấy.
Đối với các hạt nano bạc hình cầu, SPR xuất hiện ở khoảng 400 nm, 7 tương ứng với màu vàng ở ánh sáng nhìn thấy. Phổ hấp thụ của các dung dịch keo vàng và bạc được trình bày trong hình 1.4, cho thấy đỉnh SPR của các hạt nano hình cầu và có kích thước nhỏ.4: Phổ hấp thụ của các hạt nano kim loại có kích thước nhỏ và dạng hình cầu của a) AuNP và b) AgNP với SPR tương ứng khoảng 520 nm và 400 nm. LSPR có thể được sử dụng để giải thích các thuộc tính tán xạ và hấp thụ ánh sáng phụ thuộc vào kích thước của các hạt nano vàng và bạc. Bằng cách thay đổi kích thước của hạt nano, vị trí đỉnh LSPR có thể được dịch chuyển đáng kể, điều này sẽ ảnh hưởng đến màu sắc quan sát của hạt và đặc tính tán xạ Raman của các hạt nano kim loại này.
Vị trí đỉnh LSPR là bước sóng mà tại đó sự hấp thụ và tán xạ tăng cường được quan sát cho các hạt nano kim loại. Tăng cường điện từ và tăng cường tán xạ ánh sáng sẽ xảy ra khi bước sóng kích thích ở gần đỉnh LSPR. Điều quan trọng là tối ưu hóa các hạt SERS cho một bước sóng kích thích cụ thể. Việc tối ưu hóa này có thể được thực hiện bằng cách chế tạo các hạt nano với các kích thước có thể tạo ra một đỉnh LSPR ở bước sóng kích thích.
Các dự đoán lý thuyết về vị trí đỉnh LSPR có thể được thực hiện bằng lý thuyết tán xạ Mie. Lý thuyết tán xạ Mie là một phương pháp áp dụng hệ phương trình Maxwell cho sự lan truyền điện từ đến các hạt hình cầu đẳng hướng đồng nhất. Kết quả này có thể được sử dụng để dự đoán các vị trí đỉnh LSPR cho các 8 hạt nano có kích thước, hình dạng và tính chất điện môi khác nhau. Phương trình sau sử dụng lý thuyết tán xạ Mie và có thể được sử dụng để ước tính các đặc tính dập tắt phụ thuộc bước sóng của một hạt nano có giới hạn lưỡng cực tĩnh điện.𝜀𝑚 ) +𝜀𝑖 Trong phương trình này 𝐸(𝜆) là sự dập tắt ánh sáng phụ thuộc bước sóng là một tổng của hấp thụ và tán xạ.
Na là mật độ diện tích của các hạt nano, a là bán kính của các hạt nano, 𝜀𝑚 là hằng số điện môi của môi trường xung quanh hạt nanovà 𝜀𝑟 , 𝜀𝑖 là phần thực và ảo của các hàm điện môi của các hạt nano, X là chỉ số hình dạng hạt. Chỉ số hình dạng hạt có thể được thay đổi theo mô phỏng lí thuyết Mie với hình dạng và tỉ lệ khác nhau của hạt. Lý thuyết Mie Lý thuyết Mie giải thích mầu đỏ của dung dịch hạt nano vàng bằng cách giải phương trình Maxwell cho một sóng điện từ tương tác với một quả cầu nhỏ, có hằng số điện môi phụ thuộc vào tần số giống như vật liệu khối. Đối với các hạt nanô kim loại có kích thước d nhỏ hơn nhiều bước sóng ánh sáng tới ( 2r , hoặc một các gần đúng 2r max / 10 ) thì dao động của điện tử được coi là dao động lưỡng cực và thiết diện tắt được viết dưới dạng đơn giản: 2 ( ) c 9 (1.2) 3/ 2 C ext Vm ( ) 2 ( ) 2 2 1 m 2 Cũng từ lý thuyết Mie ta có thể tính được thiết diện tán xạ Csca và thiết diện hấp thụ C abs với các hạt cầu nhỏ biểu diễn dưới dạng: k4V 2 27 Csca | 1|2 2 (1.3) 18 (1 2m ) 2 2 Trong đó V là thể tích của hạt, là tần số của ánh sáng tới, c vận tốc ánh sáng, k là số sóng, m và 1 i 2 là hàm điện môi của môi trường bao quanh và của vật liệu hạt.