Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu tạo chế phẩm sinh học xử lý mùn cưa tràm làm cơ chất trồng nấm sò tím

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tạo chế phẩm sinh học xử lý mùn cưa tràm làm cơ chất trồng nấm sò tím, ứng dụng hiệu quả trong nông nghiệp.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận

2018

49
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

0.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

0.3. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

0.3.1. Ý nghĩa khoa học

0.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.2. TỔNG QUAN VỀ VI SINH VẬT

1.2.1. Tổng quan về vi khuẩn Bacillus

1.2.2. Tổng quan về xạ khuẩn Streptomyces

1.2.3. Tổng quan về nấm mục trắng Phanerochaete chrysosporium

1.3. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH NẤM VÀ QUY TRÌNH NUÔI TRỒNG NẤM TRUYỀN THỐNG

1.3.1. Tổng quan về ngành nấm ở nước ta

1.3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm trên thế giới

1.3.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm tại Việt Nam

1.3.4. Sơ lược về giá trị, đặc tính sinh thái kỹ thuật nuôi trồng nấm sò truyền thống

1.3.5. Giá trị dinh dưỡng của nấm sò

1.3.6. Giá trị kinh tế của nấm sò

1.3.7. Đặc tính sinh học của nấm sò

1.4. TỔNG QUAN VỀ CHẾ PHẨM SINH HỌC

1.4.1. Khái niệm chế phẩm sinh học

1.4.2. Cơ sở khoa học của việc sử dụng vi sinh vật trong sản xuất chế phẩm sinh học

1.4.3. Tình hình nghiên cứu, ứng dụng chế phẩm sinh học trong xử lý cơ chất trồng nấm

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.2. Nguyên liệu, hóa chất và thiết bị

2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1. Phương pháp phân lập và giữ giống

2.3.2. Phương pháp xác định khả năng phân giải cellulose

2.3.3. Phương pháp định lượng vi sinh vật

2.3.4. Phương pháp sản xuất chế phẩm vi sinh

2.3.5. Phương pháp ủ mùn cưa

2.3.6. Phương pháp đánh giá cảm quan đống ủ

2.3.7. Phương pháp đánh giá năng suất sinh học (BE%)

2.3.8. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN

3.1. KẾT QUẢ PHÂN LẬP CÁC CHỦNG VSV

3.1.1. Phân lập vi khuẩn Bacillus

3.1.2. Phân lập xạ khuẩn Streptomyces

3.1.3. Phân lập nấm mục trắng

3.2. KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG PHÂN GIẢI CELLULOSE

3.2.1. Khả năng phân giải cellulose của các chủng vi khuẩn Bacillus

3.2.2. Khả năng phân giải cellulose của các chủng xạ khuẩn Streptomyces

3.2.3. Khả năng phân giải cellulose của các chủng nấm mục trắng

3.3. KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH TÍNH ĐỐI KHÁNG GIỮA NẤM MỤC TRẮNG VÀ NẤM SÒ TÍM (ST)

3.4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT CHẾ PHẨM SINH HỌC

3.5. KẾT QUẢ TỐC ĐỘ LAN TƠ CỦA NẤM SAU KHI XỬ LÝ MÙN CƯA BẰNG CHẾ PHẨM

3.6. KHẢO SÁT TỈ LỆ NHIỄM CỦA CÁC BỊCH PHÔI

3.7. NĂNG SUẤT NẤM BÀO NGƯ TÍM

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về chế phẩm sinh học

Chế phẩm sinh học là sản phẩm được tạo ra từ các vi sinh vật có lợi, có khả năng cải thiện chất lượng đất và tăng năng suất cây trồng. Việc ứng dụng chế phẩm sinh học trong nông nghiệp đã trở thành xu hướng quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Đặc biệt, trong việc xử lý mùn cưa, chế phẩm sinh học giúp phân giải cellulose, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nấm. Nghiên cứu này tập trung vào việc phát triển chế phẩm sinh học từ các chủng vi khuẩn Bacillus và xạ khuẩn Streptomyces, nhằm xử lý mùn cưa tràm, một nguyên liệu phổ biến trong trồng nấm. Theo nghiên cứu, việc sử dụng chế phẩm sinh học không chỉ giúp cải thiện chất lượng mùn cưa mà còn tăng cường khả năng sinh trưởng của nấm sò tím, một loại nấm có giá trị dinh dưỡng cao.

1.1. Tầm quan trọng của chế phẩm sinh học

Chế phẩm sinh học đóng vai trò quan trọng trong việc xử lý chất thải nông nghiệp, đặc biệt là mùn cưa. Việc sử dụng chế phẩm sinh học giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tăng cường khả năng phân giải các chất hữu cơ. Nghiên cứu cho thấy rằng các chủng vi sinh vật như Bacillus và Streptomyces có khả năng phân giải cellulose cao, từ đó tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của nấm. Điều này không chỉ giúp nâng cao năng suất nấm mà còn góp phần bảo vệ môi trường. Việc ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nấm đang trở thành một xu hướng tất yếu trong nông nghiệp bền vững.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp phân lập và xác định khả năng phân giải cellulose của các chủng vi sinh vật. Các chủng vi khuẩn Bacillus và xạ khuẩn Streptomyces được phân lập từ mẫu đất có nguồn gốc từ cây tràm. Sau đó, khả năng phân giải cellulose của các chủng này được đánh giá thông qua các thí nghiệm trong điều kiện phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy rằng các chủng vi sinh vật này có khả năng phân giải cellulose cao, từ đó có thể ứng dụng vào sản xuất chế phẩm sinh học. Việc sử dụng mùn cưa tràm làm cơ chất trồng nấm sò tím không chỉ giúp tăng năng suất mà còn cải thiện chất lượng nấm. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng việc ứng dụng chế phẩm sinh học trong trồng nấm có thể giúp giảm thiểu chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận cho người nông dân.

2.1. Quy trình sản xuất chế phẩm sinh học

Quy trình sản xuất chế phẩm sinh học bao gồm các bước phân lập, nuôi cấy và sản xuất chế phẩm từ các chủng vi sinh vật đã được chọn lọc. Đầu tiên, các chủng vi khuẩn Bacillus và xạ khuẩn Streptomyces được phân lập từ mẫu đất và nuôi cấy trong môi trường thích hợp. Sau đó, khả năng phân giải cellulose của các chủng này được đánh giá thông qua các thí nghiệm. Kết quả cho thấy rằng các chủng vi sinh vật này có khả năng phân giải cellulose cao, từ đó có thể ứng dụng vào sản xuất chế phẩm sinh học. Việc sản xuất chế phẩm sinh học từ mùn cưa tràm không chỉ giúp cải thiện chất lượng đất mà còn tăng cường khả năng sinh trưởng của nấm sò tím, một loại nấm có giá trị dinh dưỡng cao.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng chế phẩm sinh học từ các chủng vi sinh vật có khả năng phân giải cellulose cao đã mang lại hiệu quả tích cực trong việc xử lý mùn cưa tràm. Nấm sò tím được trồng trên cơ chất đã được xử lý bằng chế phẩm sinh học cho thấy sự phát triển vượt trội về năng suất và chất lượng. Các thí nghiệm cho thấy rằng năng suất nấm tăng lên đáng kể so với các phương pháp xử lý truyền thống. Điều này chứng tỏ rằng việc ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nấm không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn cải thiện chất lượng sản phẩm. Kết quả này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển ngành nấm tại Việt Nam, góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân.

3.1. Đánh giá năng suất nấm

Năng suất nấm sò tím được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như trọng lượng, kích thước và chất lượng nấm. Kết quả cho thấy rằng nấm sò tím trồng trên cơ chất đã được xử lý bằng chế phẩm sinh học có trọng lượng và kích thước lớn hơn so với nấm trồng trên cơ chất chưa được xử lý. Điều này cho thấy rằng chế phẩm sinh học không chỉ giúp cải thiện chất lượng mùn cưa mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nấm. Việc ứng dụng chế phẩm sinh học trong trồng nấm sò tím không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn góp phần bảo vệ môi trường, tạo ra sản phẩm an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng.

IV. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc ứng dụng chế phẩm sinh học trong xử lý mùn cưa tràm có thể mang lại nhiều lợi ích cho ngành nấm. Kết quả cho thấy rằng các chủng vi sinh vật như Bacillus và Streptomyces có khả năng phân giải cellulose cao, từ đó tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của nấm sò tím. Việc sử dụng chế phẩm sinh học không chỉ giúp nâng cao năng suất nấm mà còn cải thiện chất lượng sản phẩm. Để phát triển bền vững ngành nấm, cần tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nấm, đồng thời tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn cho nông dân về lợi ích của việc sử dụng chế phẩm sinh học trong trồng nấm.

4.1. Kiến nghị

Cần có chính sách hỗ trợ nghiên cứu và phát triển chế phẩm sinh học trong nông nghiệp, đặc biệt là trong ngành nấm. Đồng thời, cần tăng cường đào tạo, tập huấn cho nông dân về kỹ thuật trồng nấm và ứng dụng chế phẩm sinh học. Việc này không chỉ giúp nâng cao năng suất và chất lượng nấm mà còn góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ngành nông nghiệp.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Nấm là thực phẩm giàu chất dinh dƣỡng, chứa nhiều protein, nhiều loại vitamin nhƣ vitamin B1, B2, PP,… và các axit amin thiết yếu, không gây xơ cứng động mạch và không làm tăng lƣợng cholesterol trong máu. Nấm còn có nhiều tác dụng dƣợc lý khá phong phú nhƣ: tăng cƣờng khả năng miễn dịch của cơ thể, kháng ung thƣ và kháng virus, ngăn ngừa và trị liệu các bệnh tim mạch, hạ đƣờng máu, chống phóng xạ, chống oxy hóa, giải độc và bảo vệ tế bào gan, an thần, rất có lợi cho việc điều chỉnh hoạt động của hệ thần kinh trung ƣơng. Trên thế giới có khoảng 2.000 loài nấm ăn đƣợc, trong đó có 80 loại nấm ăn ngon và đƣợc nuôi trồng nhân tạo.

Ở Việt Nam, ngành nấm đang ngày càng phát triển, các loại nấm đƣợc trồng phổ biến là: mộc nhĩ, nấm rơm, nấm mỡ, nấm bào ngƣ, nấm linh chi các loại. Nƣớc ta có tiềm năng lớn về sản xuất nấm ăn và nấm dƣợc liệu do có nguồn nguyên liệu trồng nấm phong phú, nguồn lao động nông thôn dồi dào, điều kiện thời tiết thuận lợi cho phát triển nhiều chủng loại nấm và có thể trồng nấm quanh năm. Chúng ta đã cơ bản làm chủ đƣợc công nghệ nhân giống và sản xuất nấm đối với các loại nấm chủ lực, thị trƣờng tiêu thụ nấm ngày càng rộng mở. Chính vì vậy, ngày 16/ 4/ 2012, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết định 439/QĐ- TTg, đƣa nấm ăn, nấm dƣợc liệu vào Danh mục sản phẩm quốc gia đƣợc ƣu tiên đầu tƣ phát triển.

(Cổng Thông Tin Điện Tử Chính Phủ Nƣớc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam) Nƣớc ta sản xuất khoảng 16 loại nấm, các tỉnh phía Nam chủ yếu trồng nấm rơm, nấm mộc nhĩ. Các tỉnh phía Bắc chủ yếu trồng nấm hƣơng, nấm sò, nấm linh chi với Sản lƣợng nấm khoảng 250.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu 25 - 30 triệu USD (không tính xuất khẩu tiểu ngạch), trong đó: nấm mộc nhĩ 120.000 tấn, nấm mỡ 5.000 tấn, nấm linh chi 300 tấn, các loại nấm khác nhƣ nấm vân chi, nấm đầu khỉ, nấm kim châm, nấm ngọc châm khoảng 700 tấn. Một trong những loài nấm phổ biến và dễ trồng ở Việt Nam đó là nấm sò là một loài nấm ăn đƣợc có giá trị dinh dƣỡng cao, có vị ngọt, thơm, dai, có giá trị dinh dƣỡng cao, cung cấp các chất cần thiết cho cơ thể. Nấm bào ngƣ chứa nhiều protein, gluxit, vitamin và các acid amin có nguồn gốc từ thực vật, dễ hấp thụ bởi cơ thể con ngƣời.

Hàm lƣợng protein có trong nấm sò từ 33 - 34%. Nấm sò hoàn toàn có thể thay thế lƣợng đạm từ thịt, cá… có nguồn gốc từ động vật. Do đó, nấm sò còn đƣợc gọi là “rau sạch”, “thịt sạch” khi đƣợc sử dụng nhƣ nguồn cung cấp protein chủ yếu qua các bữa ăn. Do đặc tính sinh học, các chất dinh dƣỡng và vi chất có lợi cho sức khỏe con ngƣời dễ dàng 1 đƣợc chuyển hóa thành năng lƣợng cho cơ thể, phù hợp với các giải pháp “ăn kiêng” dành cho các bệnh nhân tiểu đƣờng, gút, mỡ máu… cũng nhƣ ngƣời có thói quen ăn chay.

Đối với ngƣời suy nhƣợc cơ thể, các món ăn chế biến từ nấm giúp phục hồi sinh lực nhanh chóng. Việc chế biến các món ăn cũng không đòi hỏi cầu kì mà vẫn rất ngon miệng nhƣ nấu cháo, xào, nấu canh, luộc… vừa có tác dụng bổ dƣỡng, vừa có tác dụng trị bệnh nhờ Gluxit trong nấm sò có đƣợc xem là thành phần quan trọng có vai trò tích trữ và vận chuyển năng lƣợng và các thành phần cấu trúc khác trong các cơ thể sống. Ngoài ra chúng có vai trò chính trong hệ miễn dịch, thụ tinh, và sinh học phát triển. Bên cạnh đó khoảng một nửa hợp chất carbon trong sinh khối (biomass) trên mặt đất là cellulose, chiếm tới 35 – 50% khối lƣợng khô sinh khối thực vật.

Tất cả sản phẩm sinh khối sẽ đƣợc khoáng hóa nhờ hệ thống enzyme đƣợc cung cấp bởi vi sinh vật. Hệ thống enzyme phân giải cellulose thƣờng chậm và không hoàn toàn. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian ngắn (48 giờ) hệ vi sinh vật trong dạ cỏ bò có thể phân giải 60 – 65% cellulose. Việc sử dụng vi sinh vật phân giải cellulose đã và đang đƣợc các nhà khoa học trên thế giới và ở Việt Nam nghiên cứu.

Ở Ấn Độ, Behera và cs. (2014) đã phân lập đƣợc vi khuẩn phân giải cellulose từ đất rừng Đƣớc và xác định đó là các loài Micrococcus spp., và Pseudomonas spp.; ở Trung Quốc, Yang Ling Liang và cs. (2011) đã phân lập đƣợc 22 dòng vi khuẩn phân lập cellulose. Ở Việt Nam Hà Thanh Toàn và cs.

(2011), Võ Văn Phƣớc Quệ và Cao Ngọc Điệp (2011), Lê Phạm Tƣờng Anh (2012) cũng đã nghiên cứu vi sinh vật phân giải cellulose. Mặt khác, Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp và giàu tiềm năng về lâm nghiệp, do đó nguồn phế thải nông – lâm nghiệp nhƣ bã mía, rơm rạ, mạt cƣa rất dồi dào, đây là nguồn nguyên liệu thích hợp cho việc trồng nấm. Hiện nay việc xử lý nguyên liệu trồng nấm vẫn còn rất thô sơ, thông thƣờng ngƣời dân vẫn ủ mạt cƣa với vôi cho hiệu quả không cao và thời gian ủ kéo dài. Từ những vấn đề cấp thiết trên chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “Nghiên cứu tạo chế phẩm sinh học ứng dụng xử lý mùn cƣa tràm làm cơ chất trồng nấm sò tím”.

MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI: Tuyển chọn đƣợc các chủng vi khuẩn Bacillus sp., xạ khuẩn Streptomyces sp., nấm mục trắng Phanerochaete chrysosporium. Có hoạt tính phân giải cellulose cao đƣợc phân lập trên cây gỗ tràm mục. Từ đó ứng dụng vào sản xuất chế phẩm vi sinh nhằm xử lý cơ chất gỗ tràm trong trồng nấm sò tím. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI: 3.

Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài góp phần tuyển chọn đƣợc các chủng vi khuẩn Bacillus sp., xạ khuẩn Streptomyces sp., nấm mục trắng, có khả năng phân giải cellulose mạnh, từ đó tạo chế phẩm vi sinh xử lí mùn cƣa tràm trƣớc khi trồng nấm sò là vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa khoa học hiện nay. Ý nghĩa thực tiễn: Sản phẩm của đề tài có thể ứng dụng trong việc trồng nấm sò tím nhằm nâng cao năng suất và chất lƣợng trong sản xuất nấm sò tím. Giúp xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân. Đề tài hoàn hợp với xu hƣớng hiện nay là ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ VI SINH VẬT 1. Tổng quan về vi khuẩn Bacillus Vi khuẩn Bacillus là những vi khuẩn Gram dƣơng, thuộc chi Bacillaceae, nội bào tử hình ovan có khuynh hƣớng phình ra ở một đầu. Bacillus đƣợc phân biệt với các loài vi khuẩn sinh nội bào tử khác bằng hình dạng tế bào hình que, sinh trƣởng dƣới điều kiện hiếu khí hoặc kỵ khí không bắt buộc.

Tế bào Bacillus có thể đơn hoặc chuỗi và chuyển động bằng tiêm mao. Nhờ khả năng sinh bào tử nên vi khuẩn Bacillus có thể tồn tại trong thời gian rất dài dƣới các điều kiện khác nhau và rất phổ biến trong tự nhiên. Chúng có thể đƣợc phân lập từ rất nhiều nguồn khác nhau nhƣ đất, nƣớc, trầm tích biển, thức ăn, sữa,. nhƣng chủ yếu là từ đất nơi đóng vai trò quan trọng trong chu kỳ C và N [1].

Tất cả các loài thuộc chi Bacillus đều có khả năng dị dƣỡng theo kiểu hoại sinh nhờ khả năng phân giải nhiều loại hợp chất hữu cơ đa dạng nhƣ đƣờng, acid amin, acid hữu cơ. Một vài loài có thể lên men carbonhydrate tạo thành glycerol và butanediol; một vài loài nhƣ Bacillus megaterium thì không cần chất hữu cơ để sinh trƣởng, một vài loài khác thì cần acid amin, vitamin B. Hầu hết đều là loài ƣa nhiệt trung bình, sống ở nhiệt độ tối ƣu là 30 – 45oC, nhƣng cũng có nhiều loài ƣa nhiệt với nhiệt độ ƣa thích là 65 oC [13, 18]. Đa số Bacillus sinh trƣởng ở pH = 7, một số phù hợp với pH = 9 – 10 nhƣ Bacillus alcalophillus, hay có loại phù hợp với pH = 2 – 6 nhƣ Bacillus acidocaldrius.

Bacillus có khả năng sản sinh nhiều enzyme ngoại bào (amylase, protease, cellulase…), do đó chúng đƣợc ứng dụng rất nhiều trong công nghiệp, trong bảo vệ môi trƣờng… Một số loài Bacillus thƣờng gặp trong tự nhiên: Bacillus subtilis, Bacillus megaterium, Bacillus mensentericus, Bacillus pumilus…[11]. Hình ảnh nhuộm Gram một số chủng Bacillus 4 1.Tổng quan về xa khuẩn Streptomyces Xạ khuẩn là nhóm lớn vi khuẩn gram dƣơng, hiếu khí, sống hoại sinh và có cấu tạo dạng sợi phân nhánh. Xạ khuẩn phân bố rất rộng rãi trong môi trƣờng đất, tham gia vào quá trình chuyển hoá tự nhiên của nhiều hợp chất trong đất. Xạ khuẩn cùng nhóm với vi khuẩn có nhân nguyên thủy (prokaryota) thuộc giới khởi sinh (Monera).

Xạ khuẩn có nhiều đặc điểm giống vi khuẩn và khác nấm mốc nhƣ sau: - Kích thƣớc của xạ khuẩn nhỏ bé tƣơng tự kích thƣớc của vi khuẩn. - Nhân của xạ khuẩn là nhân nguyên thủy chƣa có dạng nhân phân hóa hình thái. - Thành tế bào của xạ khuẩn không chứa cellulose hay chitin mà có glucopeptit. - Sự phân chia tế bào của xạ khuẩn theo kiểu amytoz là tính chất đặc trƣng thấy ở vi khuẩn.

- Xạ khuẩn không có giới tính đực cái hoặc chƣa rõ giới tính [3]. Xạ khuẩn có thể sinh tổng hợp nhiều sản phẩm trao đổi chất quan trọng, đặc biệt có ý nghĩa là các chất kháng sinh. Khoảng 80% thuốc kháng sinh đã biết có đến có nguồn gốc từ xạ khuẩn. Trong đó quan trọng nhất là kháng sinh thuộc nhóm tetracyclines, macrolides và aminoglycosides.

Xạ khuẩn còn có khả năng sinh ra các enzyme, một số vitamin thuộc nhóm B và axit hữa cơ. Hai nhóm xạ khuẩn quan trọng là tác nhân gây bệnh ở ngƣời là Mycobacterium tuberculosis gây bệnh lao và Corynebacterium diphtheriae gây bệnh bạch hầu. Một số xạ khuẩn thuộc nhóm Mycobacteria và Corynebacteria sống cộng sinh ở động vật. Trƣớc đây xạ khuẩn đƣợc xếp chung nhóm với nấm do chúng có hình thức phát triển dạng sợi phân nhánh.

Ngày nay xạ khẩn đƣợc xếp vào nhóm vi khuẩn thật do chúng có nhiều đặc điểm giống với vi khuẩn và khác với nấm nhƣ sau: - Có giai đoạn đa bào và đơn bào; - Kích thƣớc rất nhỏ; - Thể nhân là nhân nguyên thủy; - Vách tế bào không chứa celluloze hoặc kitin; - Không có giới tính; - Sống hoại sinh hoặc ký sinh [8]. Xạ khuẩn phân bố rộng rãi trong tự nhiên, có trong đất, nƣớc, rác, bùn, thậm chí có trong cả những cơ chất mà vi khuẩn và nấm mốc không phát triển đƣợc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu chế phẩm sinh học xử lý mùn cưa tràm trồng nấm sò tím là một tài liệu chuyên sâu về việc ứng dụng chế phẩm sinh học để xử lý mùn cưa tràm, nhằm tối ưu hóa quá trình trồng nấm sò tím. Nghiên cứu này không chỉ giúp cải thiện hiệu suất sản xuất mà còn góp phần bảo vệ môi trường thông qua việc sử dụng các giải pháp sinh học thân thiện. Đây là một hướng đi tiềm năng cho ngành nông nghiệp bền vững, đặc biệt là trong lĩnh vực trồng nấm.

Để mở rộng kiến thức về các biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu piper nigrum l theo hướng bền vững tại đăk lăk. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối coffea canephora pierre giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu sâu hơn về các kỹ thuật canh tác hiện đại. Cuối cùng, Luận án ts quyết định lựa chọn sản xuất chè theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt của hộ nông dân tại vùng trung du miền núi phía bắc sẽ cung cấp thêm góc nhìn về việc áp dụng tiêu chuẩn nông nghiệp bền vững.