MỞ ĐẦU Ngày nay, chúng ta rất quen thuộc với nhiều loại sản phẩm làm từ sữa như: sữa chua, sữa đặc, sữa nước, sữa bột, bơ, pho mát. Không ai có thể phủ nhận một thực tế rằng, bản chất của sữa là một nguồn dinh dưỡng dồi dào, đáp ứng tốt nhu cầu dinh dưỡng của con người và đặc biệt rất thơm ngon. Sữa là nguồn cung cấp các yếu tố thiết yếu cho sinh trưởng và phát triển của con người. Mỗi người chúng ta ngay từ lúc sinh ra đều cần đến sữa để bắt đầu sự sống.
Tất cả chúng ta đều biết rằng bò sữa có thể sản xuất ra sữa phục vụ nhu cầu của con người. Sữa rất giàu năng lượng, đạm, khoáng và các loại vitamin. Các nhà khoa học còn chỉ ra rằng trong sữa có đến hơn 100 loại thành phần khác nhau [68]. Khi thủy phân lactose tạo thành 2 đường đơn glucose và galactose.
Enzyme thủy phân lactose là β- galactosidase (EC.23), thường được gọi là lactase. Ngày nay, sữa bò và các sản phẩm khác từ sữa được xem là thực phẩm thường nhật của con người. Vì thế, lactose là nguồn cung cấp lượng carbohydrate đáng kể hàng ngày của chúng ta. Nhưng lactose trong sữa và các sản phẩm từ sữa lại ảnh hưởng đến sự tiêu hóa.
Không dung nạp lactose do thiếu enzyme lactase trong niêm mạc ruột non là vấn đề của hơn 70% dân số trên thế giới. Lượng lactose không hấp thu trong ruột bị chuyển hóa bởi các quần thể vi khuẩn ở ruột dẫn đến tiêu chảy, đau bụng, đầy hơi và khó chịu. Vấn đề này có thể được giải quyết nếu lactose trong sản phẩm sữa được thủy phân thành các dạng đường đơn dễ hấp thu. Sử dụng lactase ngoại bào thủy phân lactose sẽ giải quyết triệt để vấn đề này.
Lactase có thể được sử dụng ở dạng hòa tan, cố định. Nhưng với sự phát triển của công nghệ enzyme cố định mang lại rất nhiều ưu điểm trong quá trình thủy phân lactose [58]. Tỷ lệ không dung nạp lactose khác nhau ở các khu vực trên thế giới từ 5% đến gần như 100%. Ước tính có khoảng 75% người 1 trưởng thành có hiện tượng giảm hoạt động của lactase trong giai đoạn trưởng thành.
Tỷ lệ giảm hoạt động của lactase từ 5% ở Bắc Âu, lên 71% ở Nam Âu, và lên tới 90% ở các nước Châu Phi và Châu Á [51]. Hiện nay, thế giới có rất nhiều sản phẩm sữa đã thủy phân lactose hay còn gọi sữa nghèo lactose (lactose-reduced milk), nhưng tại Việt Nam, các công ty sữa vẫn chưa sản xuất được sản phẩm này, tất cả sản phẩm đều nhập ngoại nên giá thành rất cao. Vì thế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Tạo chế phẩm lactase cố định trên phức chất mang CMC-Alginate để thăm dò ứng dụng tạo sản phẩm sữa nghèo lactose”. Với mục tiêu, thử nghiệm tạo sản phẩm sữa nghèo lactose tại Việt Nam.
Căn cứ trên mục tiêu này, chúng tôi tiến hành khảo sát ba nội dung: - Khảo sát kỹ thuật và tối ưu quá trình cố định lactase. - Khảo sát động học lactase cố định và lactase tự do. - Thử nghiệm tạo sản phẩm sữa nghèo lactose bằng lactase cố định. Luận điểm mới của đề tài thể hiện ở hai khía cạnh: - Tạo chế phẩm lactase cố định.
- Góp phần giải quyết được vấn đề không dung nạp lactose của đa số dân số. Khai thác tiềm năng thị trường sữa tại Việt Nam. * Quy mô nghiên cứu: quy mô phòng thí nghiệm. Giới thiệu enzyme lactase Lactase có mã số phân loại EC.23, là một enzyme thủy phân đường lactose thành các monomer là glucose và galactose.
Việc sử dụng β-galactosidase để thủy phân lactose trong sữa và dịch whey là một trong những ứng dụng tiềm năng trong công nghiệp chế biến thực phẩm và các sản phẩm từ sữa. Enzyme này có thể được sử dụng dưới dạng hòa tan hoặc dạng cố định nhưng dạng hòa tan chỉ có thể sử dụng trong qui trình sản xuất gián đoạn, còn dạng cố định có lợi thế hơn là có thể sử dụng tốt cho cả hai qui trình sản xuất gián đoạn và liên tục. Mặc dù hầu hết các ngành công nghiệp vẫn thủy phân lactose với enzyme tự do, nhưng việc sử dụng enzyme β-galactosidase cố định là một lĩnh vực đáng quan tâm vì những tiềm năng của nó. Lactase là một trong những enzyme được nghiên cứu ở dạng tự do và cố định trên quy mô lớn.
Enzyme này có rất nhiều ứng dụng, nhưng do giá thành cao nên người ta khuyến khích sử dụng enzyme này dưới dạng cố định. Lactase cố định rất quan trọng chủ yếu trong việc xử lí huyết thanh sữa, khi đó chất béo và protein trong nhũ tương sữa có xu hướng bám lên bề mặt chất xúc tác sinh học. Điều này sẽ làm giảm hoạt tính của enzyme và làm tăng sự ngoại nhiễm vi sinh vật [49]. Cấu trúc β-galactosidase của Penicillum sp.
Nguồn thu nhận enzyme β-galactosidase Enzyme β-galactosidase có thể được thu nhận từ nhiều nguồn khác nhau như vi sinh vật, thực vật và động vật. Tuy nhiên, tính chất của enzyme được thu nhận từ các nguồn khác nhau có sự khác nhau rõ rệt. Enzyme thu nhận từ nguồn thực vật và động vật có giá trị kinh tế thấp, nhưng thu nhận từ nguồn vi sinh vật lại có nhiều ưu thế như dễ dàng xử lí thu nhận, tốc độ nhân giống vi sinh vật cao, năng suất thu nhận sản phẩm cao. Một số vi sinh vật được xem là nguồn thu nhận tiềm năng của loại enzyme này.
Bacillus licheniformis [65] 4 Bảng 1. Nguồn vi sinh vật thu nhận β-galactosidase Nguồn Vi sinh vật Alicyclobacillus acidocaldarius subsp. rittmannii Arthrobacter sp. stearothermophilus Bacteriodes polypragmatus Bifidobacterium bifidum, B.
infantis Clostridium acetobutylicum, C. thermosulfurogens Corynebacterium murisepticum Enterobacter agglomerans, E. cloaceae Escherichia coli Klebsiella pneumoniae Lactobacillus acidophilus, L. Vi khuẩn delbrueckii Leuconostoc citrovorum Pediococcus acidilacti, P.
pento Propioionibacterium shermanii Pseudomonas fluorescens Pseudoalteromonas haloplanktis Streptococcus cremoris, S. thermophius Sulfolobus solfatarius Thermoanaerobacter sp. aquaticus Trichoderma reesei Vibrio cholera Xanthomonas campestris Alternaria alternate, A. palmi Aspergillus foelidis, A.
Oryzae Auerobasidium pullulans Curvularia inaequalis Fusarium monilliforme, F. oxysporum Nấm Mucor meihei, M. pusillus Neurospora crassa Penicillum canescens, P. expansum Saccharopolyspora rectivergula Scopulariapsis sp Streptomyces violaceus Bullera singularis Candida pseudotropicalis Nấm men Saccharomyces anamensis, S.
fragilis Kluyveromyces bulgaricus, K. Tính chất của β-galactosidase của nấm mốc, nấm men, vi khuẩn Cơ chất lactose Chất Nguồn gốc 0 Km Chất ức chế pHopt T opt M, kD hoạt hóa (mM) Nấm mốc Aspergillus niger 3,5 58 85 124 - - Aspergillus oryzae 5,0 55 50 90 - - Nấm men Kluyveromyces lactis 6,5 37 35 115 K+, Mg2+ Ca2+, Na+, Zn, Cu Kluyveromyces fragilis 6,6 30 0,23 – 200 - SDS 0,99 (ONPG) Sterigmatomyces 6,0 60 - - Fe2+, - elviae CBS8119 Ca2+, Cu2+, Zn2+ Vi khuẩn Escherichia coli 7,2 40 2 540 Na+, K+ - Bacillus subtilis 6,5 50 700 - - - Bacillus 6,2 55 2 220 Mg2+ - stearothermophilus Lactobacillus 6,2 55 6 540 - - thermophilus Lactobacillus reuteri 8,0 45 13 35 Na+, K+, Fe2+, Ca2+, L103 Mn2+ Cu2+, Zn2+ Lactobacillus reuteri 6,5 50 31 72 Na+, K+, Fe2+, Ca2+, L461 Mn2+ Cu2+, Zn2+ Bullera singularis 5,0 50 580 53 - Ag3+, SDS KCTC 7534 Bacillus 7,0 70 2,96 70 - Fe2+, Zn2+, stearothermophilus Cu2+, Pb2+, Sn2+ Bifidobacterium 4,8 45 800 362 EDTA Zn2+, Mn2+ bifidum Co2+, Ca2+, Sn2+ Bifidobacterium 5,0 60 2,6 470 Na+, K+ Cr3+, EDTAc, infantis urea, galactose PCMB Bacillus circulans 6,0 65 41,7 67 - - Bacillus coagulans 6,5 55 50 430 EDTA Fe , Cu2+, 3+ Zn2+, galactose kD = kiloDalton; oNPG = o-nitrophenyl β - D galactopyranoside; SDS = sodium dodecyl sulfate; EDTA = ethylene diamine tetraacetic acid; PCMB = p-chloromercuribenzoate [27]. Enzyme cố định 1. Định nghĩa enzyme cố định Enzyme cố định là enzyme được giới hạn hay khu biệt về mặt vật lý ở một vùng không gian nhất định nhưng vẫn giữ được hoạt tính xúc tác và có thể được tái sử dụng nhiều lần [37].
Các ưu điểm của enzyme cố định: - Khả năng tái sử dụng: enzyme cố định có thể được sử dụng lại nhiều lần, quá trình xúc tác có thể xảy ra liên tục và có thể được kiểm soát triệt để nên việc sử dụng enzyme cố định kinh tế hơn so với enzyme hòa tan. - Có các ứng dụng đa dạng với nhiều kiểu cố định khác nhau phù hợp cho từng ứng dụng đó. - Có thể bất hoạt nhanh enzyme khi cần. - Sản phẩm của quá trình chuyển hóa do enzyme cố định xúc tác có thể được tách ra dễ dàng trong khi vẫn giữ được các đặc tính của enzyme.
- Các đặc tính lý hóa có thể thay đổi đa dạng: Độ ổn định, pH tối ưu, khả năng chịu nhiệt và mức độ đặc hiệu có thể thay đổi tùy theo phương pháp cố định enzyme. Đặc biệt, có một số enzyme nhạy cảm với nhiệt trở nên bền nhiệt hơn khi gắn vào chất mang trơ về mặt hóa học. - Có thể được sử dụng như các mô hình của enzyme trong tự nhiên. Ví dụ như việc cố định nhiều loại enzyme trong một con đường chuyển hóa sinh hóa tự nhiên trong các cấu trúc lỗ nano có thể xúc tác in vitro cho một quá trình chuyển hóa phức tạp diễn ra theo nhiều bước [10,36].
Tuy nhiên theo Parmjit S. Pannesar và cộng sự (2010) vấn đề chính trong hệ thống cố định enzyme là sự nhiễm khuẩn, kết dính protein và phân dòng. Các vấn đề này có thể được khắc phục bằng phương pháp rửa định kỳ, thanh trùng pasteur và hướng dòng chảy của nguồn cung cấp. Vấn đề nhiễm khuẩn cũng có thể khắc phục bằng cách khai thác đặc tính nhiệt độ của enzyme.
Các enzyme ổn định nhiệt có khả năng duy trì hoạt tính của chúng ở nhiệt độ cao trong thời gian dài và do có nhiệt độ hoạt động cao nên quá trình ít bị ảnh hưởng bởi sự nhiễm khuẩn. Các thông số quan trọng của một enzyme cố định cần đạt được: 7 - Năng suất của enzyme từ nguồn ban đầu. - Giá cả của chất mang hay các hóa chất cố định. - Hoạt tính của enzyme cố định.
- Độ bền của enzyme cố định. - Khả năng tái sử dụng chất mang [10]. Lịch sử phát triển của enzyme cố định Có thể chia lịch sử phát triển của enzyme cố định ra thành ba giai đoạn phát triển chính: - Giai đoạn 1: năm 1815, ứng dụng enzyme cố định trong các quá trình như sản xuất acid acetic, xử lý nước thải. - Giai đoạn 2: thập niên 1960, cố định đơn enzyme để sản xuất L-amino acid, đồng phân hóa glucose.
- Giai đoạn 3: từ 1985 – 1995, cố định đa enzyme bao gồm tái sinh co-factor và cố định tế bào [21]. Trong đó, nổi bật lên một số nghiên cứu: Năm 1916, Nelson và Griffin quan sát và cho thấy rằng enzyme invertase (EC.6) của nấm men khi hấp thụ vào than có khả năng thủy phân đường saccharose.