CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH Ô NHIỄM NƯỚC SÔNG VÀ LƯU VỰC SÔNG VÀM CỎ ĐÔNG – TỈNH TÂY NINH 1. Tổng quan về tình hình ô nhiễm nước sông ở Việt Nam Hệ thống nước mặt Việt Nam với hơn 2360 con sông với tổng chiều dài khoảng 41900km (Báo cáo Môi trường Quốc gia 2012 - BTNMT). Đây là nguồn tài nguyên quý giá, là nơi cư trú và nguồn sống của các loài động, thực vật và hàng triệu người, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Tuy nhiên, hiện nay, vấn đề suy thoái tài nguyên nước lưu vực sông diễn ra ngày càng nghiêm trọng.
Suy thoái tài nguyên nước trên lưu vực sông được biểu hiện ở sự suy giảm về số lượng và đặc biệt là chất lượng. Trong những năm qua, sự tăng nhanh về dân số và khai thác quá mức tài nguyên nước, các tài nguyên đất và rừng đã làm suy kiệt nguồn nước; việc phát triển đô thị và công nghiệp nhưng không có biện pháp quản lý chặt chẽ và xử lý các chất thải lỏng, thải rắn theo yêu cầu cũng đã làm ô nhiễm nguồn nước, vì thế suy thoái tài nguyên nước đã trở thành khá phổ biến đối với các lưu vực sông ở nước ta. Theo khảo sát của Trung tâm Quan trắc môi trường Quốc gia - Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho thấy hiện trạng môi trường nước mặt lục địa nhiều nơi bị ô nhiễm nghiêm trọng. Các lưu vực sông khu vực miền Bắc nói chung và vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng đã và đang chịu áp lực mạnh mẽ của quá trình gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa.
Các khu đô thị, khu dân cư và khu công nghiệp tập trung được hình thành và phát triển mạnh dọc theo các lưu vực sông. Trong số các nguồn thải phát sinh thì nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp đóng góp tỷ lệ lớn với tổng lượng các chất ô nhiễm rất cao. Sông Hồng qua Phú Thọ, Vĩnh Phúc đang có dấu hiệu ô nhiễm, đặc biệt là một số địa điểm gần các nhà máy, xí nghiệp. Đoạn sông Hồng từ Công ty Supe Photphat và hóa chất Lâm Thao đến khu công nghiệp phía nam Thành phố Việt Trì, các thông số vượt ngưỡng B1 của QCVN 08:2008 nhiều lần (Báo cáo Môi trường Quốc gia năm 2012 – BTNMT).
5 Sông Cầu nhiều đoạn đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là các đoạn sông chảy qua các đô thị, khu công nghiệp và các làng nghề thuộc tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh. Sông Ngũ Huyện Khê là một trong những điển hình ô nhiễm nghiêm trọng của lưu vực sông Cầu do hoạt động của các cơ sở sản xuất và đặc biệt là các làng nghề trải suốt dọc sông từ Đông Anh(Hà Nội) cho đến cống Vạn An (Bắc Ninh). Hầu hết nước thải các cơ sở sản xuất đều chưa được xử lý và xả trực tiếp ra sông. Nước sông bị ô nhiễm nghiêm trọng và chất lượng nước không thay đổi nhiều qua các năm.
Môi trường nước mặt của lưu vực sông Nhuệ - Đáy đang chịu sự tác động mạnh của nước thải sinh hoạt và các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và thuỷ sản trong khu vực. Chất lượng nước của nhiều đoạn sông đã bị ô nhiễm tới mức báo động. Sông Nhuệ từ khu vực Cổ Nhuế, nước bắt đầu bị ô nhiễm. Đặc biệt, ô nhiễm nước tăng cao từ khu vực tiếp nhận nước sông Tô Lịch.
Nước thải sông Tô Lịch (nguồn tiếp nhận các loại nước thải sinh hoạt, sản xuất, công nghiệp, nông nghiệp… của toàn bộ các quận nội thành Hà Nội) là nguyên nhân chính gây ô nhiễm cho sông. Nước sông Đáy ô nhiễm ở mức nhẹ hơn sông Nhuệ và ô nhiễm chỉ mang tính cục bộ. Nguồn ô nhiễm chính khu vực Đông Nam Bộ là nguồn ô nhiễm nước mặt chủ yếu do nước thải công nghiệp và sinh hoạt. Sông Đồng Nai khu vực thượng lưu sông chất lượng nước tương đối tốt nhưng khu vực qua Thành phố Biên Hòa nước sông bị ô nhiễm nặng do tiếp nhận nguồn xả từ các nhà máy, khu công nghiệp và nước thải sinh hoạt của trên 800.000 dân của thành phố Biên Hòa.
Sông Sài Gòn đoạn qua khu vực Thành phố Hồ Chí Minh có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ. Các Giá trị BOD 5 , COD, vi sinh. đều không đạt quy chuẩn QCVN 08:2008 loại A2, tại nhiều điểm còn vượt B1. Tại vị trí cầu Bến Súc giá trị BOD5 khá cao.
Đây là vị trí trực tiếp nhận nước thải và chất thải từ thị xã Thủ Dầu Một và các khu dân cư, khu đô thị ven sông Sài Gòn đồng thời bị tác động bởi hoạt động của các khu công nghiệp tập trung và các cơ sở công nghiệp phân tán thuộc khu vực Nam Bình Dương và huyện Củ Chi. Trong những năm gần đây, chất lượng nước sông Sài Gòn có chiều hướng suy giảm và mức độ ô nhiễm trên sông mở rộng hơn 6 về phía hượng lưu so với năm trước đó. Một số vị trí, các thông số ô nhiễm luôn ở mức cao như cầu An Lộc, cầu An Hạ, cầu chữ Y. Giá trị Coliform trên sông Sài Gòn hầu như luôn vượt QCVN 08:2008 loại B2, do phải chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất từ các khu dân cư và các cơ sở công nghiệp phân tán của thành phố Hồ Chí Minh.
Chất lượng nước mặt vùng đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng bởi nước thải phát sinh từ hoạt động nuôi trồng và chế biến thủy sản, canh tác nông nghiệp trong khu vực. Việc sử dụng phân bón hóa học trong canh tác nông nghiệp làm ảnh hưởng tới hàm lượng chất dinh dưỡng trong nước mặt khu vực đồng bằng sông Cửu Long.Vì thế, chất lượng nước một số sông như sông Tiền, sông Hậu,… đã có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ, trong đó mức độ ô nhiễm sông Tiền cao hơn sông Hậu. Lưu vực sông Vàm Cỏ Đông đoạn sông chảy qua tỉnh Tây Ninh Tại lưu vực sông Vàm Cỏ Đông đoạn sông chảy qua tỉnh Tây Ninh, chất lượng nước bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau bao gồm hoạt động sản xuất từ các nhà máy chế biến tinh bột khoai mì, mủ cao su ở huyện Châu Thành phía thượng nguồn, các khu công nghiệp như Linh Trung III, Phước Đông, Thành Thành Công… phía hạ nguồn; nguồn nước thải sinh hoạt từ khu dân cư tập trung, các hộ dân sống rải rác ven sông, hoạt động tháo chua rửa phèn trong sản xuất nông nghiệp. đã làm nước sông Vàm Cỏ Đông ngày càng ô nhiễm.
Các thông số về chất lượng nước mặt(DO, BOD 5 , COD, NH 4 +, Coliform) đều vượt quy chuẩn cho phép cột A2 và B1 QCVN 08:2008/BTNMT. Từ thực tế trên cho thấy, vấn đề suy thoái tài nguyên nước lưu vực sông diễn ra ngày càng nghiêm trọng trên các lưu vực sông ở Việt Nam. Việc tìm hiểu, xác định các nguồn ô nhiễm chính là rất cần thiết nhằm đưa ra các giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, cải thiện chất lượng nước, chất lượng môi trường sống của người dân khu vực ven sông, đảm bảo phát triển kinh tế, xã hội và sự phát triển bền vững cho tương lai. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội lưu vực sông Vàm Cỏ Đông tỉnh Tây Ninh 1.
Đặc điểm tự nhiên 1. Vị trí địa lý Khu vực nghiên cứu thuộc tỉnh Tây Ninh, nằm trong vùng Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tổng diện tích tự nhiên 403. Tây Ninh có tọa độ địa lý từ 10057’08” đến 11046’36” vĩ độ Bắc và từ 105048’43” đến 106028’48” kinh độ Đông. Phạm vi ranh giới của tỉnh Tây Ninh được xác định như sau: - Phía Đông giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước; - Phía Nam và Đông Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh và Long An; - Phía Bắc và Tây Bắc giáp các tỉnh Svay Rieng, Kampong Cham (Vương quốc Campuchia).
Với vị trí địa lý nằm giữa các trung tâm kinh tế, thương mại là thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Phnôm Pênh của Campuchia, giao điểm quan trọng giữa hệ thống giao thông quốc tế và quốc gia, thông thương với các vùng kinh tế có nhiều tiềm năng phát triển, là điều kiện thuận lợi để tỉnh Tây Ninh phát triển kinh tế, xã hội. Sơ đồ khu vực nghiên cứu 9 1. Địa hình Tỉnh Tây Ninh nằm trong vùng miền Đông Nam Bộ, nối cao nguyên Nam Trung Bộ với đồng bằng sông Cửu Long. Do đó Tây Ninh có địa hình pha trộn giữa đặc điểm của một cao nguyên và dáng dấp, sắc thái của vùng đồng bằng.
Tuy là vùng chuyển tiếp nhưng địa hình ít phức tạp, tương đối bằng phẳng và độ dốc nhỏ, thấp dần từ Đông Bắc (độ cao khoảng 20 - 50m) xuống Tây Nam (độ cao khoảng 0 - 10m). Phần thượng lưu sông Sài Gòn có đồi cao +50,0m, địa hình thấp là đồng bằng ven sông Vàm Cỏ Đông độ cao +5,0m so với mực nước biển. Toàn tỉnh có 4 dạng địa hình chính: - Dạng núi: Chủ yếu thuộc về khối núi Bà Đen với diện tích khoảng 15km2 cao 986m, kiểu địa hình sườn xâm thực bóc mòn với độ dốc lớn, thay đổi từ 20 - 400. - Dạng đồi: Phổ biến ở thượng nguồn sông Sài Gòn, dọc biên giới tỉnh Bình Phước với độ cao 50 - 80m, được tạo thành từ cát bột kết, bột kết hoặc phù sa cổ được nâng cao.
Đây là dạng địa hình khá phổ biến ở Tây Ninh. - Dạng đồi dốc thoải: Độ cao thay đổi từ 15 - 25m có khi lên đến 30m. Địa hình này có một ít ở Nam Tân Biên và xuất hiện khá nhiều ở các huyện Dương Minh Châu, Hòa Thành, Trảng Bàng, Gò Dầu và một ít ở Bến Cầu. Các đồi có đỉnh bằng, tròn, sườn lồi, rất thoải, độ dốc sườn chỉ khoảng 2 - 30.
- Dạng đồng bằng: Là địa hình các thềm sông bậc 1 có độ cao tuyệt đối 5 - 10m, các bãi bồi hiện đại chỉ cao hơn mực nước biển 2 - 5m phân bố dọc các lòng sông thành từng dãy rộng 20 - 150m với chiều dài khoảng vài km. Dạng địa hình này phổ biến dọc ở hai bờ sông Vàm Cỏ Đông thuộc các huyện Hoà Thành, Trảng Bàng, Bến Cầu, Châu Thành. Nhìn chung, địa hình Tây Ninh tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, du lịch và kết cấu hạ tầng. Khí hậu Khí hậu Tây Ninh tương đối ôn hoà, chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô.
Mùa nắng từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau và tương phản rất rõ với mùa mưa (từ tháng 5 – tháng 11).