CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Một số lý thuyết về mô hình cửa hàng tiện ích 1. Lịch sử hình thành cửa hàng tiện ích Cửa hàng tiện ích đầu tiên trên thế giới được sinh ra tại bang Texas, Mỹ vào cuối những năm 1920. Tại Mỹ, một đất nước rộng lớn với khu vực nhà ở và khu vực thương mại thường cách xa nhau, cho nên dễ thấy việc người dân thường mua những hàng hóa thiết yếu hàng ngày ở siêu thị vào một thời gian cố định nào đó.
Có nhiều trường hợp xảy ra khi mà một món đồ cần thiết nào đó lại đột ngột không được chuẩn bị trong lúc mua sắm số lượng lớn ở siêu thị. Để đáp ứng nhu cầu đột xuất này, cửa hàng tiện lợi đã được phát triển dưới dạng một cửa hàng có thể bán những hàng hóa thiết yếu hàng ngày với số lượng nhỏ nhất. Công ty Southland, thành lập tại bang Texas Dallas, Mỹ, vào năm 1927 đã cho ra đời những cửa hàng tiện ích như thế. John Jefferson Green, người điều hành một cửa hàng bán đá lẻ công ty sản xuất đá Southland, đã điều hành việc kinh doanh ngày qua ngày, với 16 giờ mỗi ngày mà không có một kỳ nghỉ nào vào cả mùa hè khi có hạn hán kéo dài.
Vào mùa hè năm 1927, ông đã đề xuất công ty cho ông được bán thêm thực phẩm và đồ dùng cá nhân để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, đề xuất của ông đã được chấp nhận. Vào ngày 01/05/1928, ông đã trả 1000 USD như một phần doanh thu của công ty để đảm bảo cho lời đề nghị của mình. Hình thức kinh doanh cửa hàng tiện ích đã ra đời từ đó. Ban đầu, cửa hàng này khá nhỏ và chủ yếu bán đồ uống, thức ăn nhẹ, thực phẩm mới qua sơ chế, dược phẩm không cần đơn bác sĩ và tạp chí.
Tuy nhiên, phần lớn người Nhật lại cho rằng cửa hàng tiện ích được sinh ra tại Nhật Bản. Theo những tài liệu thu thập được, thì chủ blogspot có tên “All-of- conveniencestore” cũng có đưa ra lịch sử hình thành cửa hàng tiện ích ở Nhật. Theo đó, cửa hàng tiện ích đầu tiên ở Nhật được thành lập tại ga Tajimi ở Gifu vào năm 1962. Cửa hàng này được lập nên từ những người quan tâm đến các dịch vụ của tàu hỏa.
Nhưng cũng có thể cửa hàng Mỹ được xây dựng ở Osaka vào năm 1969 là hình thức cửa hàng tiện ích đầu tiên của người Nhật. Năm 1971, Cocostore được lập tại 10 Aichi, năm 1972, Family Mart được lập tại Saitaman, và vào năm 1974, cửa hàng Seven Eleven được ra đời lần đầu tiên tại Tokyo. Định nghĩa cửa hàng tiện ích Hiện nay tại Việt Nam chưa có văn bản chính thức nào quy định về loại hình kinh doanh này. Theo như định nghĩa của Hiệp hội Các cửa hàng tiện ích và bán lẻ nhiên liệu của Mỹ (NACS) thì: “Một cửa hàng tiện ích là một loại hình kinh doanh bán lẻ với mục tiêu căn bản là cung cấp cho người dân một địa điểm thuận tiện để mua sắm nhanh chóng nhiều chủng loại sản phẩm tiêu dùng (phần lớn là thực phẩm hoặc thực phẩm và nhiêu liệu) và dịch vụ.” Ở Việt Nam, ta có thể nhận thấy, cửa hàng tiện ích: là một loại cửa hàng nhỏ, diện tích khoảng trên 50m2 chuyên bày bán các loại hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu hàng ngày về những món đồ lặt vặt, và có thể được tìm thấy trên mọi con phố.
Loại hình này thường được coi như là cánh tay kéo dài của các siêu thị, đại siêu thị, len lỏi vào các khu dân cư để phục vụ người tiêu dùng một cách nhanh chóng, tiện lợi và hiệu quả nhất. Sự khác nhau giữa cửa hàng tiện ích và các loại hình tương tự 1. Sự khác nhau giữa cửa hàng tiện ích và cửa hàng tạp hóa Bảng 1. So sánh sự khác nhau giữa cửa hàng tiện ích và cửa hàng tạp hóa Cửa hàng tạp hóa Cửa hàng tiện ích - Có mặt trên cả nước, từ thành thị - Có mặt ở các thành phố và thành đến nông thôn.
- Được đặt gần như ở các con - Đặt dọc các con đường, con phố, đường, con hẻm nhỏ nhất, với quy mô không thể chen vào sâu tận những con tùy thuộc vào diện tích mà chủ cửa hàng hẻm nhỏ như cửa hàng tạp hóa, diện tích có hoặc thuê được. thường từ 50m2 trở lên - Chủ cửa hàng thường là hộ gia - Chủ sở hữu có thể là các doanh đình cá thể, kinh doanh tự phát, thường nghiệp nhỏ, hoặc các đại gia trong kinh doanh đơn lẻ, không phát triển theo ngành bán lẻ, phải có đăng ký kinh 11 dạng chuỗi được, vốn kinh doanh ít. doanh, có thể mở rộng theo dạng chuỗi theo hình thức nhượng quyền. - Giờ mở cửa thường từ 7-8h sáng - Có giờ mở cửa khá linh hoạt, đến 8-9 giờ tối, theo giờ sinh hoạt của thường trên 18 giờ/ngày, hoặc cũng có người dân địa phương, có thể đóng cửa những cửa hàng mở cửa 24/24 giờ, 7/7 vào các ngày lễ Tết.
ngày, không kể lễ tết. - Không phục vụ thực phẩm ăn - Vì tính tiện lợi, cửa hàng có thể nhanh ngay tại cửa hàng. cung cấp các món ăn nhanh và có bàn ghế, các trang bị phục vụ cho việc ăn ngay tại cửa hàng. - Thường có quầy đứng bán hàng, - Nhân viên chỉ đứng sau quầy thu chủ cửa hàng và người phụ việc đứng ngân, khách hàng tự chọn lấy món hàng sau đó và họ phải tự đi quanh cửa hàng mình cần và mang đến quầy thanh toán.
để lấy món hàng khách cần, tự tay gói chúng lại. - Nguồn gốc xuất xứ hàng hóa - Đảm bảo hàng hóa có nguồn gốc, thường không được kiểm tra và đảm bảo. xuất xứ rõ ràng, uy tín. - Giá hàng hóa thường thấp hơn.
- Giá hàng hóa thường cao hơn. - Hàng hóa thường không được - Hàng hóa được niêm yết giá rõ niêm yết giá trước mà khách hàng tự biết ràng để khách hàng có thể tự chọn so hoặc hỏi chủ cửa hàng, họ thường có sánh và chọn món hàng với mức giá họ danh mục giá của các loại sản phẩm. - Thường không in hóa đơn thanh - Hàng hóa được tính tiền và thanh toán, đôi khi khách hàng có thể ghi nợ toán ngay tại quầy thu ngân, nhân viên với chủ cửa hàng và thanh toán vào lần sẽ in hóa đơn thanh toán cho khách khác. - Chỉ áp dụng các chương trình - Ngoài các chương trình của nhà khuyến mãi của nhà cung cấp khi có cung cấp, các cửa hàng vẫn hay có chương trình.
chương trình khuyến mãi riêng cho 12 khách. - Không cung cấp chỗ đậu xe riêng - Dù ít hay nhiều vẫn tạo không và không có trách nhiệm giữ xe cho gian để xe cho khách và đôi chỗ có khách. người trông xe và dắt xe cho khách - Chỉ chấp nhận thanh toán bằng - Ngoài tiền mặt có thể thanh toán tiền mặt. bằng thẻ tín dụng hoặc thẻ thanh toán.
Nguồn: Tổng hợp 1. Sự khác nhau giữa cửa hàng tiện ích và siêu thị Bảng 1. So sánh sự khác nhau giữa cửa hàng tiện ích và siêu thị Siêu thị Cửa hàng tiện ích - Có diện tích và khối lượng, - Diện tích nhỏ hơn và chỉ cung chủng loại hàng hóa lớn. cấp một số loại hàng hóa cần gấp.
- Cung cấp thực phẩm, hàng tạp - Cung cấp đa số là thực phẩm và hóa và gia dụng, có cả hàng tươi sống. một số hàng hóa tiêu dùng hàng ngày. - Được bố trí có lối đi rộng để - Thường có ít kệ hàng và lối đi khách hàng có thể dùng xe đẩy hoặc hẹp, nên khách hàng chỉ có thể dùng giỏ nhựa lớn để đi chọn các món hàng giỏ nhỏ hoặc không dùng giỏ để chọn cần thiết. - Khách hàng thường đến siêu thị - Khách hàng chỉ ghé mua những định kỳ hoặc ngẫu nhiên và mua hàng món hàng với số lượng nhỏ trong lúc với số lượng lớn, đôi khi là mua những gấp, thường không tốn thời gian cho món hàng ngoài dự kiến ban đầu.
những món hàng không định trước. - Giá cả thường thấp hơn, đặc biệt - Giá hàng hóa thường cao hơn so cho các khách hàng mua số lượng lớn với siêu thị. vì họ được các nhà cung cấp để giá thấp với số lượng hàng cung ứng nhiều. - Tích hợp nhiều dịch vụ khác như - Vì diện tích nhỏ và chỉ cung cấp ATM, quầy bán thức ăn nhanh và đồ hàng thiết yếu nên không tích hợp 13 uống, dịch vụ cắt sửa quần áo,… nhiều dịch vụ cộng thêm.
- Mở cửa thường từ 8 giờ sáng - Giờ mở cửa sớm hơn và có thể đến 10 giờ tối. - Có bãi giữ xe rộng cho khách - Chỉ có chỗ để xe nhỏ hẹp dọc hàng, có thu phí giữ xe. theo vỉa hè nhưng miễn phí gửi xe. - Có nhiều chương trình khuyến - Có ít chương trình khuyến mãi.
mãi cho khách hàng hơn. - Thường đông khách nên khi - Thanh toán nhanh, ít khi phải thanh toán có thể phải xếp hàng. xếp hàng vì số khách và hàng hóa ít. Nguồn: Tổng hợp 1.
Vai trò của cửa hàng tiện ích - Cũng như các loại hình kinh doanh bán lẻ khác, cửa hàng tiện ích là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng trong nền kinh tế. - Là một mắc xích trong mạng lưới phân phối bán lẻ, giữ vai trò quan trọng trong quá trình tái sản xuất, đưa hàng hóa chất lượng đến gần người tiêu dùng nhất có thể. - Cửa hàng tiện ích phần nào đấy giúp giảm các khâu trung gian trong hệ thống phân phối so với những loại hình bán lẻ truyền thống trước đó, tạo nên một liên kết phân phối dọc vững chắc và ngắn gọn từ người sản xuất đến người tiêu dùng, giảm thiếu chi phí và thời gian giao dịch, góp phần hạ giá thành sản phẩm. - Góp phần hướng người tiêu dùng đến các phương thức mua sắm và thanh toán hiện đại, thích ứng với sự phát triển chung của nền kinh tế cũng như các điều kiện xã hội khác.
- Tạo điều kiện cho các nhà sản xuất nội địa, địa phương có nhiều cơ hội đưa sản phẩm đến người tiêu dùng thông qua cửa hàng tiện ích. - Tạo việc làm cho người dân địa phương, đặc biệt là việc làm bán thời gian cho các đối tượng học sinh, sinh viên và lao động phổ thông. Nhân viên cửa hàng được huấn luyện và làm quen với phong cách làm việc chuyên nghiệp và hiện đại. Chất lượng dịch vụ 1.