MỞ ĐẦU Mang thai và sinh con từ lâu đã đƣợc xem là quá trình tự nhiên của ngƣời phụ nữ, hầu hết là kết thúc tốt đẹp với một trẻ sơ sinh và một bà mẹ an toàn. Tuy nhiên bất kỳ một quá trình mang thai nào cũng có những nguy cơ tiềm ẩn có thể xảy ra tai biến trong lúc mang thai hay trong lúc chuyển dạ sanh [5]. Trên toàn cầu, đã có quá trình đáng kể trong việc giảm tỷ lệ tử vong ở bà mẹ và trẻ sơ sinh với tử vong mẹ giảm 44% trong giai đoạn 1990-2015. Riêng Việt Nam, từ năm 2000 đến năm 2017, Việt Nam ghi nhận số liệu tử vong mẹ trên 1000 trẻ đẻ sống giảm từ 68 xuống còn 43 và số tử vong mẹ giảm từ 940 phụ nữ vào năm 2000 xuống còn 700 phụ nữ ở năm 2017 [46].
Tuy nhiên, mỗi năm trên thế giới vẫn có hơn 300.000 phụ nữ tử vong do các biến chứng khi mang thai và sinh nở [46]. Mặc dù hầu hết các trƣờng hợp tử vong mẹ đều có thể ngăn ngừa đƣợc với sự quản lý kịp thời của một chuyên gia y tế có tay nghề cao làm việc trong một môi trƣờng đƣợc hỗ trợ [53]. Vì vậy tất cả phụ nữ cần đƣợc tiếp cận với dịch vụ chăm sóc chất lƣợng cao khi mang thai, trong và sau khi sinh con để giảm thiểu tối đa các biến chứng có thể xảy ra, đặc biệt là các dịch vụ chăm sóc tiền sản [5], [53]. Hiện nay, chăm sóc tiền sản cho phụ nữ mang thai ngày càng đƣợc quan tâm.
Đã có một số nghiên cứu về kiến thức, thực hành chăm sóc tiền sản của phụ nữ mang thai gần đây cho thấy phần lớn các phụ nữ mang thai có kiến thức và thực hành chăm sóc tiền sản đúng chƣa cao với tỷ lệ nằm trong khoảng 40% đến dƣới 70% [11], [28],[31], [38] và các can thiệp đƣợc áp dụng đối với kiến thức và thực hành chăm sóc tiền sản của phụ nữ mang thai nhìn chung là có hiệu quả [3], [18], [22]. An Biên là một huyện thuộc tỉnh Kiên Giang, với tổng dân số 115.218 ngƣời, trong đó có 57.032 nữ, toàn huyện có 13 cơ sở y tế (trong đó có 10 cơ sở y tế công và 3 phòng khám đa khoa tƣ nhân) với 278 cán bộ y tế trong đó 2 có 112 y-bác sĩ, 101 điều dƣỡng - nữ hộ sinh, còn lại là dƣợc sĩ, kỹ thuật viên. Câu hỏi đặt ra là: Với điều kiện nhƣ vậy thì kiến thức và thực hành chăm sóc tiền sản của phụ nữ mang thai tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang hiện nay nhƣ thế nào? Và nếu những phụ nữ mang thai tại đây có kiến thức, thực hành chƣa đúng đƣợc can thiệp bằng hình thức truyền thông trực tiếp về các nội dung chăm sóc tiền sản thì kết quả nhƣ thế nào? Có hiệu quả không? Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu kiến thức, thực hành chăm sóc tiền sản và đánh giá kết quả can thiệp ở phụ nữ mang thai tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang năm 2021” với 3 mục tiêu chính nhƣ sau: 1. Xác định tỷ lệ phụ nữ mang thai có kiến thức, thực hành đúng về chăm sóc tiền sản tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang năm 2021.
Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành chăm sóc tiền sản chƣa đúng tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang năm 2021. Đánh giá kết quả can thiệp truyền thông trực tiếp đối với kiến thức, thực hành chăm sóc tiền sản của phụ nữ mang thai tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang năm 2021. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình tử vong phụ nữ mang thai và tầm quan trọng của chăm sóc tiền sản 1.
Trên thế giới Theo tổ chức y tế thế giới, năm 2017, thế giới ghi nhận có khoảng 295 000 phụ nữ đã chết trong, sau khi mang thai và sinh con, tƣơng đƣơng với mỗi ngày khoảng 810 phụ nữ [53]. Trong số ca tử vong mẹ có 94% xảy ra ở nƣớc có thu nhập trung bình và thấp [46]. Trong suốt hai thập kỷ qua, nhiều nỗ lực đáng kể đã đƣợc thực hiện để đảm bảo việc đi sinh có kỹ năng, nhằm mục đích giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở các bà mẹ và trẻ sơ sinh. Những nỗ lực này đã cải thiện đáng kể số ca sinh tại các cơ sở y tế, tỷ lệ đỡ đẻ có nhân viên y tế có tay nghề cao ở các nƣớc đang phát triển đã tăng từ 56% năm 1990 lên 68% năm 2012.
Mặc dù tỷ lệ này tăng lên, 800 phụ nữ và 7700 trẻ sơ sinh vẫn tử vong. mỗi ngày từ các biến chứng trong khi mang thai và sinh nở và trong thời kỳ sau khi sinh; thêm 7300 phụ nữ bị thai chết lƣu [51], [56]. Từ năm 2000 đến năm 2017, Nam Á đạt mức giảm tử vong mẹ trên 1000 trẻ đẻ sống cao nhất với gần 60% (từ mức 384 xuống còn 157). Mặc dù có tử vong mẹ trên 1000 trẻ đẻ sống rất cao trong năm 2017, khu vực châu Phi cận Sahara cũng đạt mức giảm đáng kể với tỷ lệ gần 40% kể từ năm 2000.
Trên toàn cầu, hơn 70% trƣờng hợp tử vong mẹ là do các biến chứng của thai kỳ và sinh nở chẳng hạn nhƣ băng huyết, rối loạn tăng huyết áp, nhiễm trùng huyết và sẩy thai. Các biến chứng của sinh non, ngạt, tử vong chu sinh trong tử cung và nhiễm trùng sơ sinh chiếm nhiều hơn hơn 85% trẻ sơ sinh tử vong. Các nghiên cứu cho thấy rằng chăm sóc hiệu quả, chất lƣợng cao để ngăn ngừa và quản lý các biến chứng trong giai đoạn quan trọng này có thể 4 làm giảm số lƣợng bà mẹ tử vong, thai chết lƣu và tử vong sơ sinh sớm đáng kể [42], [49], [53], [56]. Hiện đã có các bằng chứng chỉ ra rằng nơi cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản bao gồm các biện pháp can thiệp cùng với các nữ hộ sinh đƣợc đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế đƣợc chứng minh có thể ngăn chặn hơn 80% các trƣờng hợp tử vong, thai chết lƣu và tử vong sơ sinh [47].
Vì vậy tất cả phụ nữ cần đƣợc tiếp cận với dịch vụ chăm sóc chất lƣợng cao khi mang thai, trong và sau khi sinh con để giảm thiểu tối đa các biến chứng có thể xảy ra, đặc biệt là các dịch vụ chăm sóc tiền sản (CSTS) để có thể chăm sóc theo dõi thai, xác định kết quả thai nghén, lập kế hoạch đối phó với các biến chứng có thể có của quá trình sinh đẻ, đối phó với các vấn đề có thể xảy ra cho trẻ sơ sinh, hƣớng dẫn quyết định chấm dứt hay tiếp tục thai nghén và tìm kiếm các bất thƣờng có thể ảnh hƣởng đến các lần mang thai kế tiếp [5], [53]. Tại Việt Nam Từ năm 2000 đến năm 2017, Việt Nam ghi nhận số liệu tử vong mẹ trên 1000 trẻ đẻ sống giảm từ 68 xuống còn 43 và số tử vong mẹ giảm từ 940 phụ nữ vào năm 2000 xuống còn 700 phụ nữ ở năm 2017 [46]. Các nội dung chăm sóc tiền sản Chăm sóc tiền sản là một thành phần cốt lõi của chăm sóc thai sản, dựa trên phƣơng pháp tiếp cận dựa trên quyền con ngƣời. Dƣới đây là những nội dung chính của CSTS đƣợc áp dụng tại Việt Nam.
Khám thai định kỳ Mỗi phụ nữ mang thai phải đƣợc quản lý thai và khám thai ít nhất 4 lần trong thai kỳ (1 lần trong 3 tháng đầu, 1 lần trong 3 tháng giữa, 2 lần trong 3 tháng cuối) [1]. 5 Dƣới dây là nội dung khám thai và mục đích khám thai của từng tam cá nguyệt theo Giáo trình sản phụ khoa 1[5]. Khám thai trong ba tháng đầu - Mục đích: Chuẩn đoán thai, vị trí thai; Xác định tuổi thai, định ngày dự sanh; Phát hiện sớm các nguy cơ thai nghén; Xác định tình trạng sức khỏe của mẹ; Giáo dục vệ sinh thai nghén. - Nội dung: sản phụ nên khám càng sớm càng tốt sau khi trễ kinh.
+ Định ngày dự sanh: dựa vào ngày kinh cuối cùng (với điều kiện kinh nguyệt của thai phụ đều, chu kỳ 28 ngày), siêu âm, bề cao tử cung. + Hỏi tiền căn và phát hiện các nguy cơ: sản phụ khoa (những bất thƣờng của lần sanh trƣớc; bệnh lý phụ khoa đi kèm;bệnh lý nội ngoại khoa; yếu tố di truyền, dị tật bẩm sinh trong gia đình), hành vi nguy cơ (hút thuốc; uống rƣợu; sử dụng ma túy, quan hệ tình dục bừa bãi; phơi nhiễm trƣớc bức xạ hoặc hóa chất) Khám thai trong ba tháng giữa - Mục đích: Theo dõi sự phát triển và sức khỏe của thai; Tình trạng sức khỏe bà mẹ; Phát hiện sớm các nguy cơ thai nghén; Làm các xét nghiệm cận lâm sàng chẩn đoán tiền sản (nếu có); Giáo dục vệ sinh thai nghén; Chủng ngừa VAT. - Nội dung: + Theo dõi sức khỏe bà mẹ: cân nặng thai phụ; đo huyết áp; đo bề cao tử cung; phát hiện các triệu chứng nhƣ nhức đầu, mờ mắt, gò tử cung, xuất huyết âm đạo, ối vở non… + Theo dõi sự phát triển và sức khỏe của thai: nghe tim thai (tim thai có thể nghe đƣợc trên lâm sàng lần đầu tiên và tuần thứ 16 và 19), cử động thai, phát hiện các dị dạng thai nhi. 6 + Chủng ngừa VAT: tiêm 2 mũi cách nhau một tháng, mũi tiêm nhắc lại phải cách ngày dự sanh 4 tuần.
Khám thai trong ba tháng cuối - Mục đích: Xác định ngôi thai, trọng lƣợng thai nhi; Đánh giá sự phát triển của thai; Tiên lƣợng sinh thƣờng hay sinh khó; Đánh giá tình trạng sức khỏe thai phụ. - Nội dung: Tốt nhất nên khám thai mỗi tháng một lần. + Theo dõi sức khỏe bà mẹ: tiếp tục theo dõi nhƣ ba tháng giữa; khám phụ khoa để phát hiện các bệnh lý viêm nhiễm đƣờng sinh dục; khảo sát khung chậu để đánh giá tiên lƣợng cuộc sanh sắp tới. + Theo dõi sự phát triển và sức khỏe của thai: tiếp tục theo dõi sự phát triển và sức khỏe thai nhi và xác định ngôi thai, vị trí thai.
Chế độ dinh dưỡng của phụ nữ mang thai Chế độ dinh dƣỡng trong thời kỳ mang thai có vai trò quan trọng đối với sức khỏe của bà mẹ và con. Chế độ ăn uống đa dạng và cân bằng từ thời kỳ trƣớc mang thai cần thiết để đảm bảo cả sức khỏe của bà mẹ và kết quả mang thai. Nhu cầu năng lƣợng, protein, lipid, carbohydrate đều tăng và thay đổi theo tuổi thai, tình trạng dinh dƣỡng trƣớc khi mang thai và tốc độ tăng cân. Nhu cầu DHA và hầu hết các vitamin, chất khoáng, chất xơ tăng cao ở phụ nữ mang thai [7].