Nghiên cứu sự tương quan giữa cấu trúc và tính chất quang của vật liệu SnO2 Eu

Nghiên cứu sự tương quan giữa cấu trúc và tính chất quang của vật liệu SnO2:Eu tại HCMUTE, đóng góp cho lĩnh vực vật liệu quang học.

Chuyên ngành

Công Nghệ Vật Liệu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2020

62
8
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KIẾN THỨC TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU PHÁT QUANG SnO2:Eu

1.1. VẬT LIỆU SnO2

1.1.1. Cấu trúc vật liệu SnO2

1.1.2. Cấu trúc năng lượng vùng cấm của SnO2

1.1.3. Một số tính chất cơ bản của vật liệu SnO2

1.1.4. Tổng quan về tình hình nghiên cứu vật liệu SnO2

1.2. VẬT LIỆU PHÁT QUANG CHỨA ION ĐẤT HIẾM

1.2.1. Đặc điểm chung của nguyên tố đất hiếm

1.2.2. Các dịch chuyển phát xạ và không phát xạ của ion đất hiếm

1.2.3. Huỳnh quang của ion Eu3+

1.2.4. Cơ chế suy giảm cường độ bức xạ của vật liệu phát quang

1.3. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CHẾ TẠO VẬT LIỆU SnO2

1.3.1. Phương pháp Sol-gel

1.3.2. Phương pháp thủy nhiệt

1.3.3. Phương pháp bốc bay nhiệt

1.3.4. Phương pháp vi sóng (microwave)

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH. HÓA CHẤT THIẾT BỊ

2.1. QUY TRÌNH THỰC NGHIỆM

2.2. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH

2.2.1. Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD)

2.2.2. Kính hiển vi điện tử quét (SEM)

2.2.3. Phương pháp phổ tán xạ Raman

2.2.4. Phổ huỳnh quang (PL) và phổ kích thíc huỳnh quang (PLE)

2.2.5. Phương pháp đo thời gian sống của bức xạ huỳnh quang

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. ẢNH HƯỞNG CỦA TRISODIUM CITRATE ĐẾN TÍNH CHẤT CỦA VẬT LIỆU SnO2

3.1.1. Hình thái bề mặt và cấu trúc vật liệu SnO2

3.1.2. Tính chất quang của vật liệu SnO2:Eu

3.2. ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ PHA TẠP Eu ĐẾN TÍNH CHẤT CỦA VẬT LIỆU SnO2

3.2.1. Cấu trúc vật liệu SnO2

3.2.2. Tính chất quang của vật liệu SnO2:Eu

KẾT LUẬN CHUNG

KIẾN NGHỊ VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về vật liệu SnO2

Vật liệu SnO2 (thiếc oxit) là một trong những vật liệu bán dẫn quan trọng, được sử dụng rộng rãi trong các ứng dụng quang điện tử. Cấu trúc của SnO2 thuộc dạng tứ giác rutile, với các hằng số mạng a = 0,4738 nm và c = 0,3187 nm. Cấu trúc này cho phép SnO2 có những tính chất điện và quang đặc biệt. Đặc biệt, SnO2 có độ rộng vùng cấm lớn (khoảng 3,6 eV), giúp nó trở thành một vật liệu lý tưởng cho các ứng dụng trong lĩnh vực quang học và điện tử. Sự hiện diện của các nút khuyết oxy trong cấu trúc của SnO2 tạo ra các mức năng lượng donor, làm tăng tính dẫn điện của vật liệu. Điều này cho phép SnO2 hoạt động như một bán dẫn loại n, với khả năng dẫn điện tốt và tính chất quang học hấp dẫn.

II. Tính chất quang học của SnO2

Tính chất quang học của SnO2 được thể hiện qua khả năng hấp thụ và phát xạ ánh sáng. Khi ánh sáng kích thích chiếu vào bề mặt SnO2, các electron trong vùng dẫn có thể chuyển lên các mức năng lượng cao hơn, dẫn đến hiện tượng huỳnh quang. Tuy nhiên, SnO2 không phải là vật liệu phát quang mạnh do tính đối xứng đặc biệt của hàm sóng. Nghiên cứu cho thấy rằng, khi kích thước của SnO2 giảm xuống dưới vài nanomet, hiệu ứng giam giữ lượng tử có thể xảy ra, làm thay đổi tính chất quang học của vật liệu. Cường độ huỳnh quang của SnO2 có thể giảm nhanh khi nhiệt độ tăng, nhưng đỉnh bức xạ tại 590 nm cho thấy ít phụ thuộc vào nhiệt độ, cho thấy sự ổn định của các mức năng lượng nhỏ trong vùng cấm.

III. Nghiên cứu cấu trúc và tính chất quang của SnO2 Eu

Việc pha tạp ion đất hiếm như Europium (Eu3+) vào SnO2 đã mở ra nhiều khả năng mới trong việc cải thiện tính chất quang học của vật liệu. Nghiên cứu cho thấy rằng, khi pha tạp SnO2 với Eu3+, cường độ phát xạ huỳnh quang có thể được tăng cường đáng kể nhờ vào sự truyền năng lượng từ SnO2 sang các ion đất hiếm. Phương pháp chế tạo SnO2:Eu bằng thủy nhiệt cho phép kiểm soát tốt các thông số như nhiệt độ và thời gian, từ đó ảnh hưởng đến cấu trúc và tính chất quang của vật liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tương quan giữa cấu trúc và tính chất quang của SnO2:Eu là rất quan trọng, mở ra hướng đi mới cho các ứng dụng trong lĩnh vực quang học và điện tử.

IV. Ứng dụng của SnO2 trong công nghệ

Vật liệu SnO2 và các hợp chất pha tạp như SnO2:Eu đang được nghiên cứu và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong lĩnh vực quang điện tử, SnO2 được sử dụng làm điện cực dẫn trong các thiết bị quang điện, pin mặt trời và cảm biến. Tính chất quang học của SnO2:Eu cũng mở ra khả năng ứng dụng trong các thiết bị phát quang, như đèn LED và màn hình hiển thị. Sự phát triển của công nghệ nano đã giúp cải thiện đáng kể tính chất của SnO2, từ đó nâng cao hiệu suất và độ bền của các thiết bị điện tử. Việc nghiên cứu sâu hơn về cấu trúc và tính chất quang của SnO2 sẽ tiếp tục đóng góp vào sự phát triển của công nghệ vật liệu trong tương lai.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: KIẾN THỨC TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU PHÁT QUANG SnO2:Eu 1. VẬT LIỆU SnO2 1. Cấu trúc vật liệu SnO2 SnO2 là tinh thể phân cực bất đẳng hướng, trong điều kiện bình thường SnO2 tồn tại dưới dạng cấu trúc tứ giác rutile như TiO2, GeO2. Rutile SnO2 có dạng đối 4 xứng tetragonal 𝐷ℎ14 .Ô đơn vị của SnO2 được trình bày ở (hình 1.1) có dạng tetragonal với các hằng số mạng lần lượt là (a = 0,4738 nm, c = 0,3187 nm) [13].

Trong ô đơn vị bao gồm sáu nguyên tử, 2 nguyên tử thiếc và 4 nguyên tử oxy. Những nguyên tử Sn nằm vị trí ở (0, 0, 0) và (1/2a, 1/2a, 1/2c), trong khi đó các nguyên tử oxy định vị ở vị trí ± (ua, -ua, 0), (1/2a, 1/2a, 1/2c) và ± (ua, ua, 0), với u = 0,307Å [13,14]. Mỗi nguyên tử thiếc liên kết với sáu nguyên tử oxy tạo thành hình bát diện có tâm là nguyên tử thiếc. Mô hình cấu trúc tinh thể SnO2 Tinh thể với cấu trúc Rutile hoàn chỉnh chỉ có thể được tạo ra trong điều kiện vật liệu được ủ trong áp suất cao của một khí oxy hóa nào đó chẳng hạn như O2, NO2.

Nói chung, trên mặt SnO2 luôn tồn tại các nút khuyết oxy. Khi ủ lại mẫu có mặt Rutile trong chân không tới 650 K, các nguyên tử oxy cầu nối mất đi, ta thu được mẫu có mặt (110) có sự co lại để đạt được tối ưu về năng lượng; ủ lại mẫu có mặt Rutile trong chân không tới 700 K sẽ có thêm nút khuyết của một số nguyên tử oxy ở mặt bên trong và ta thu được mặt sai hỏng. Cấu trúc năng lượng vùng cấm của SnO2 3 do an SnO2 là loại vật liệu bán dẫn loại n, với độ rộng vùng cấm tương đối lớn (khoảng 3,6eV) [18]. Nguyên nhân là do sai hỏng mạng ở dạng khuyết oxy.

Khi đó mức năng lượng donor (∆E donor) nằm gần vùng dẫn, do đó nó bị ion hóa gần như hoàn toàn ở nhiệt độ thấp [13]. Nhờ những nút khuyết oxy này giúp cho 2 electron của nguyên tử Sn kế cận trở thành 2 electron tự do, nên tinh thể SnO2 được xem như là một bán dẫn loại n với cấu trúc vùng năng lượng chứa 2 mức donor ED1 và ED2 (nằm trong vùng ΔE donor), với mức ED1 cách đáy vùng dẫn 0,03eV, mức ED2 cách đáy vùng dẫn 0,15eV. Giản đồ cấu trúc vùng năng lượng của vật liệu SnO2 Hình 1. Mô hình cấu trúc vùng năng lượng của vật liệu SnO2 khi chưa pha tạp 1.

Một số tính chất cơ bản của vật liệu SnO2 a. Tính chất điện 4 do an Độ dẫn của vật liệu bán dẫn (𝜎𝑡 ) bằng tổng độ dẫn của electron (𝜎𝑒 ) và lỗ trống (𝜎𝑝 ). Điện trở của vật liệu khối với độ dẫn khối (𝜎𝑏 ) độ linh động (µ) chiều dài (l) diện tích bề mặt (A) được tính theo công thức: 1 𝑅𝑏 = với 𝜎𝑏 = 𝜎𝑒 + 𝜎𝑝 = 𝑛𝜇𝑒 𝑒 + 𝑝𝜇𝑝 𝑒 (1.1) 𝜎𝑏 𝐴 Nguyên nhân làm cho vật liệu SnO2 là bán dẫn loại n là do tồn tạo các nút khuyết oxy. Vì có các nút khuyết này nên ngoài các ion Sn4+ (đã bị oxy hoá hoàn toàn bởi các nguyên tử oxy) còn có các ion Sn2+.

Sự tồn tại đồng thời hai dạng ion trên đã mang lại tính dẫn điện cho SnO2 [4,13]. Các ion Sn2+ và Sn4+ gần nhau có thể trao đổi cho nhau cặp điện tử làm cho các ion Sn2+ chuyển thành ion Sn4+ và ngược lại. Quá trình trên diễn ra liên tiếp giữa các ion nằm cạnh nhau do đó có thể xem như các điện tử di chuyển được từ nơi này sang nơi khác tương ứng với sự tăng độ linh động hạt tải điện, làm tăng tính dẫn điện [4]. Ngoài ra, khi các nguyên tử oxy bị mất, Sn4+ trở thành Sn2+ và thừa ra hai điện tử, các điện tử này có độ phân cực cao hướng ra bề mặt.

Sự dư điện tử Sn làm tăng nồng độ hạt dẫn (điện tử) trên vật liệu, kết quả là độ dẫn điện của vật liệu tăng và SnO2 trở thành bán dẫn loại n, bề rộng vùng cấm Eg = 3,6 eV [3]. Mô hình năng lượng vùng cấm của bán dẫn loại n b. Tính chất quang Tính chất quang thể hiện sự tương tác giữa sóng điện từ với vật liệu. Khi chiếu ánh sáng kích thích lên bề mặt vật liệu sẽ xảy ra sự chuyển dời điện tử lên các mức 5 do an kích thích, cơ chế này được gọi là cơ chế hấp thụ [2,4].

Ở trạng thái kích thích, các điện tử này tồn tại không bền vững, nên sau một thời gian điện tử có xu hướng chuyển xuống mức năng lượng thấp hơn (cơ chế huỳnh quang) kèm theo sự phát xạ sóng điện từ. SnO2 nhìn chung không phải là vật liệu phát quang mạnh do SnO2 thuộc nhóm chất bán dẫn đặc biệt, có vùng cấm thẳng nhưng các chuyển dời lưỡng cực điện lại bị cấm vì tính đối xứng đặc biệt của hàm sóng [2]. Sau này, nhiều nhà nghiên cứu nhân thấy rằng, khi kích thước tinh thể giảm xuống vài nanomet thì hiệu ứng giam giữ lượng tử và tính đối xứng của hàm sóng có thể bị phá vỡ, do việc chuyển dời vùng cấm có thể xảy ra [2]. Đối với vật liệu SnO2, khi nhiệt độ tăng lên trên 100 K thì các điện tử ở trạng thái này bị ion hóa chuyển lên vùng dẫn và có thể tái hợp thông qua chuyển mức không bức xạ, vì vậy cường độ huỳnh quang sẽ giảm nhanh khi nhiệt độ tăng.

Ngược lại, đỉnh bức xạ tại 590 nm cho thấy ít phụ thuộc nhiệt độ, nó liên quan đến một mức năng lượng nhỏ nằm trong vùng cấm, các điện tử được kích thích đến trạng thái này thường ổn định nhiệt và sẽ trở về trạng thái ban đầu thông qua các chuyển mức bức xạ. Các dịch chuyển mức bức xạ dựa trên các mức năng lượng nhỏ nằm trong vùng cấm này là do các vị trí khuyết oxy trên bề mặt [2,3]. Phổ huỳnh quang của vật liệu dây nano SnO2 [2] 6 do an Cơ chế huỳnh quang của vật liệu SnO2 có kích thước nanomet: Khi chiếu ánh sáng có bước sóng thích hợp (các hạt photon có mức năng lượng cao hơn năng lượng vùng cấm), các electron (vùng dẫn) được hấp thụ năng lượng từ photon để hình thành các electron ở trạng thái kích thích và chuyển lên vùng dẫn để tái hợp với lỗ trống theo cơ chế tái hợp vùng – vùng, đồng thời trong quá trình di chuyển, các electron tự do bị bẫy bởi các bẫy lượng tử, các nút khuyết oxy, các sai hỏng trong bề mặt mạng tinh thể SnO2. Quá trình tái hợp diện tử và lỗ trống sẽ phát xạ ra bức xạ thứ cấp có bước sóng trong vùng ánh sáng nhìn thấy.

Tổng quan về tình hình nghiên cứu vật liệu SnO2 a. Tình hình nghiên cứu trong nước Ngoài nhóm nghiên cứu của chúng tôi (PGS.TS Trần Thị Thanh Vân) còn có nhiều nhóm nghiên cứu về cấu trúc, tính chất, hình thái học của vật liệu SnO2 nhưng chưa có công bố nào nghiên cứu một cách có hệ thống việc tổng hợp vật liệu nano SnO2. Năm 2009, nghiên cứu sinh Vũ Thị Trà [2] đã chế tạo thành công vật liệu SnO2:Eu3+ bằng phương pháp thủy nhiệt với quy trình ổn định. Khảo sát sự ảnh hưởng của nồng độ pha tạp, loại ion đât hiếm đến tính chất quang và cường độ huỳnh quang của vật liệu nền SnO2.

Nghiên cứu sự ảnh hưởng nhiệt độ và thời gian thủy nhiệt đến cấu trúc và tính chất quang của vật liệu SnO2. Năm 2014, Lê Thị Hòa đã chế tạo thành công vật liệu SnO2 có cấu trúc nano đa cấp bằng phương pháp thủy nhiệt. Khảo sát được sự ảnh hưởng của các thông số thực nghiệm ảnh hưởng đến hình thái cấu trúc của vật liệu. Từ đó ứng dụng các cấu trúc nano đa cấp vào việc chế tạo các cảm biến khí, linh kiện điện tử,… Bên cạnh đó, năm 2015 Phan Thị Mỹ Linh thuộc nhóm nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Trí Tuấn [4] đã chế tạo thành công vật liệu SnO2 có cấu trúc nano dạng bông hoa bằng phương pháp thủy nhiệt.

Nghiên cứu sự ảnh hưởng của sự pha tạp các ion đất hiếm đến sự phát quang của vật liệu. Từ đó cải thiện quy trình chế tạo nhằm ứng dụng chế tạo trong các thiết bị điện tử, y sinh,… Cùng với sự kế thừa và phát triển vật liệu SnO2 có cấu trúc nano, năm 2019, Bùi Quang Thanh [1] đã chế tạo thành công vật liệu SnO2:Eu và SnO2-SiO2:Eu. Khảo sát được ảnh hưởng của các thông số chế tạo, nồng độ pha tạp đến tính chất quang của vật liệu SnO2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 7 do an Năm 2015, V.

Inderan [13] cùng các cộng sự đã chế tạo thành công vật liệu que nano SnO2 ở nhiệt độ thấp, có kích thước trung bình khoảng 20nm, khảo sát được sự ảnh hưởng của pH đến cấu trúc và hình thái học bề mặt của vật liệu SnO2 Năm 2016, Dipyaman Mohanta và M. Ahmaruzzaman [14] đã chế tạo thành công vật liệu SnO2 có dạng hình cầu, kích thước trung bình 10-20nm bằng các phương pháp chế tạo khác nhau. Khảo sát được sự ảnh hưởng của các thông số chế tạo đến kích thước trung bình của tinh thể và và tính chất quang nhằm ứng dụng của vật liệu nano SnO2 trong các lĩnh vực điện tử, xúc tác quang học, … Năm 2017, Yanping Zhao cùng cộng sự [22] đã chế tạo thành công vật liệu que nano SnO2 bằng phương pháp thủy nhiệt mà không có bất kỳ chất hoạt động bề mặt nào. Kết quả SEM đã cho thấy khi pha tạp Eu, các phân tử SnO2 kết hợp lại với nhau thành các que nano, đường kính khoảng 10nm chiều dài khoảng vài trăm nanomet.

Tâm hoạt động Eu đóng vai trò là chất ức chế tăng trưởng tinh thể để thu được các hạt nano dạng que. 8 do an Hình 1. Ảnh TEM của mảng que nano SnO2 pha tạp 0,5%Eu: (a) Ảnh TEM độ phóng đại thấp của một phần mảng que nano; (b) Ảnh TEM trên cùng của mảng que anano; (c) Ảnh TEM độ phóng đại cao của từng que nano; (d) Hình ảnh HRTEM của một que nano SnO2 pha tạp riêng lẻ; (e) Ảnh TEM của que nano bị lỗi; (f) Hình ảnh HRTEM của một que nano SnO2 bị lỗi được gắn bởi các hạt tinh thể và được đánh dấu lần lượt là khu vực A, B, C và D; (g) Phóng to hình ảnh HRTEM của khu vực được đánh dấu A, B, C và D hiển thị các đường xoắn và biến, méo và viền lưới theo đó [22] Ngoài ra, còn nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới cũng đã chỉ ra được sự ảnh hưởng của các thông số chế tạo đến cấu trúc, hình thái, tính chất quang của vật liệu SnO2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu cấu trúc và tính chất quang của vật liệu SnO2: Tương quan và ứng dụng" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cấu trúc và đặc tính quang học của vật liệu SnO2, một trong những vật liệu quan trọng trong lĩnh vực quang học và điện tử. Tác giả phân tích mối tương quan giữa cấu trúc tinh thể và các tính chất quang của SnO2, từ đó chỉ ra những ứng dụng tiềm năng của nó trong các lĩnh vực như cảm biến, xúc tác quang và năng lượng tái tạo. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về vật liệu này mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới cho các ứng dụng công nghệ hiện đại.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các vật liệu có tính chất quang học và ứng dụng của chúng, hãy tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ hóa vô cơ tổng hợp composite bi2s3biocl dùng làm chất xúc tác quang trong vùng ánh sáng khả kiến. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ hóa học nghiên cứu tổng hợp vật liệu cu2o tio2 rgo và đánh giá hoạt tính quang xúc tác cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các vật liệu quang học khác. Cuối cùng, bạn có thể khám phá bài viết Luận văn thạc sĩ hóa học nghiên cứu tổng hợp đặc trưng vật liệu chitosan apatit và thăm dò khả năng hấp phụ chất màu hữu cơ để hiểu rõ hơn về khả năng hấp phụ của các vật liệu trong ứng dụng thực tiễn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và cái nhìn tổng quát hơn về lĩnh vực vật liệu quang học.