mở đầu cho những chiến lược cắt giảm thuế. Desai và Dharmapala (2006) sau khi nghiên cứu 900 doanh nghiệp Mỹ trong giai đoạn 1993 - 2001 tranh luận rằng tránh thuế có thể tạo điều kiện cho những người trong cuộc có khả năng để làm giảm tài sản của cổ đông, ví dụ như mang lại những lợi ích cho cá nhân. Bởi vì nó phức tạp và được thiết kế để làm mờ đi những yếu tố kinh tế cơ bản của một giao dịch kinh doanh. Do đó, trong những doanh nghiệp khi người quản lý bị ngăn chặn thông qua quyền biểu quyết của họ, có khả năng người quản lý sẽ thực hiện những mức độ tránh thuế cao hơn vì những người trong cuộc xem hành vi tránh thuế này như công cụ để tước đoạt tài sản từ những cổ đông thiểu số.
Ảnh hưởng của hiệu ứng ngăn chặn được tạo ra bởi những cổ đông kiểm soát tương tự với vấn đề hạn chế quản trị đã được nêu ra trong các nghiên cứu trước đây (Morck và cộng sự, 1988; Shleifer và Vishny, 1997; McConnell và Servaes, 1990). Do đó những tranh luận về hiệu ứng ngăn chặn gợi ý rằng một sự tập trung sở hữu cao có mối tương quan cùng chiều với hành vi tránh thuế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ảnh hưởng của hiệu ứng liên kết Theo Fan và Wong (2002) cho rằng, một cách khả thi để giảm bớt vấn đề về ngăn chặn của người quản lý là gia tăng sở hữu cổ phần của họ.
Một sở hữu cao hơn mang đến cho người quản lý những quyền biểu quyết và quyền ngân lưu mạnh hơn trong công ty. Tuy nhiên, một khi người quản lý đã đạt được hiệu quả quản lý công ty thì một sự gia tăng quyền biểu quyết không làm gia tăng hiệu ứng ngăn chặn nhưng quyền ngân lưu mạnh hơn của ông ta có nghĩa là nó trở nên tốn kém hơn để chuyển dòng tiền của công ty thành của cá nhân. Cũng đồng tình với quan điểm của Fan và Wong (2002), Chen và cộng sự (2010) cũng cho rằng một sự tập trung sở hữu cao cũng được xem như là một tín hiệu đáng tin cậy về cam kết quả nhà quản lý để xây dựng một nghĩa vụ không gây thiệt hại cho cổ đông giám sát thông qua hành vi tránh thuế. Cam kết này đáng tin cậy vì cổ đông giám sát hiểu rằng nếu người quản lý độc nhiên mang về lợi ích cá nhân cao hơn thông qua hành vi tránh thuế trong khi đang giữ nhiều cổ phần thì giá cổ phiếu sẽ bị giảm, do đó cũng làm giảm giá trị cổ phần họ đang nắm giữ.
Cân bằng, cổ đông lớn sẽ giữa một lượng lớn cổ phiếu và giá cổ phiếu sẽ cao hơn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những người sáng lập tránh thuế ít hơn như những công ty gia đình họ sẵn sàng tuân thủ các chính sách thuế để tránh giảm giá cổ phiếu. Nghiên cứu tại thị trường Trung Quốc của Richardson và cộng sự (2016) cũng có kết quả tương tự. Khi sở hữu gia tăng đủ cho lợi ích biên và chi phí biên của hành vi tránh thuế bằng nhau thì sở hữu càng cao doanh nghiệp tránh thuế càng ít do lợi ích từ hành vi tránh thuế không đủ bù đắp cho chi phí sở hữu cổ phiếu doanh nghiệp của chủ sở hữu.
Do đó, sở hữu tập trung làm gia tăng hiệu ứng liên kết: sự gia tăng nắm giữ cổ phiếu bên cao hơn mức tối thiểu để quản lý công ty hiệu quả sẽ nâng cao hiệu ứng liên kết giữa nhà quản lý và cổ đông kiểm soát và giảm ảnh hưởng hiệu ứng ngăn chặn và hành vi tránh thuế. Do đó, hiệu ứng liên kết cho rằng tập trung sở hữu cao hơn mức tối thiểu có mối quan hệ ngược chiều với hành vi tránh thuế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ảnh hưởng của hiệu ứng ngăn chặn/liên kết khi kiểm soát vượt quá sở hữu Đồng tình với quan điểm của Fan và Wong (2002), các nghiên cứu của Classens và cộng sự (2002), La Porta và cộng sự (1999) cũng cho rằng hiệu ứng ngăn chặn sẽ bị giảm đi khi gia tăng sở hữu.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng cho thấy nếu tồn tại sự khác biệt giữa quyền kiểm soát và quyền ngân lưu thì nó sẽ làm trầm trọng hơn hiệu ứng ngăn chặn và làm yếu đi hiệu ứng liên kết. Francis và cộng sự (2005) phát hiện ra rằng cấu trúc sở hữu hai lớp cho phép người quản lý đồng thời đạt được lợi ích cá nhân và tránh những ảnh hưởng về dòng tiền liên quan. Masulis và cộng sự (2009) cũng cho thấy rằng những nhà quản lý theo đuổi lợi ích cá nhân khi khác biệt giữa quyền kiểm soát và quyền ngân lưu càng mở rộng. Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng khi sự khác biệt này gia tăng, các CEO sẽ nhận nhiều tiền thưởng hơn, nắm giữ nhiều tiền mặt hơn từ đó làm giảm giá trị của những cổ đông bên ngoài, nhà quản lý dường như tham gia những giao dịch mua lại mà nó phá hủy giá trị cổ đông và chi phí vốn đóng góp ít hơn cho giá trị cổ đông.
Richardson, Wang, và Zhang (2016), thực hiện nghiên cứu giữa cấu trúc sở hữu và hành vi tránh thuế các công ty cổ phần niêm yết trên TTCK Trung Quốc. Mẫu nghiên cứu là 207 công ty niêm yết trên 2 sở GDCK lớn của Trung Quốc trong giai đoạn 2005 đến 2010. Nghiên cứu đã tìm thấy mối quan hệ phi tuyến có ý nghĩa thống kê giữa sở hữu tập trung và hành vi tránh thuế, với cấu trúc có hình chữ U ngược (inverted U-shaped). Tại một mức độ thấp, sự gia tăng trong sở hữu tập trung có tác động đồng biến đến hành vi tránh thuế, theo hiệu ứng ngăn chặn.
Tuy nhiên, khi tỷ lệ sở hữu vượt quá mức cần thiết, sở hữu tập trung thể hiện thông qua quyền biểu quyết sẽ có tương quan nghịch biến với hành vi tránh thuế, được giải thích thông qua hiệu ứng liên kết. Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng khi cấu trúc sở hữu có dạng kim tự tháp, tồn tại mối quan hệ đồng biến giữa tỷ lệ sở hữu và hành vi tránh thuế. Do đó, trong một doanh nghiệp tồn tại sự khác biệt lớn giữa quyền kiểm soát và quyền ngân lưu có khả năng những nhà quản lý sẽ tránh thuế nhiều hơn vì họ xem LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 đây là công cụ để tước đoạt tài sản của cổ đông và tránh những ảnh hưởng của dòng tiền liên quan. Tuy nhiên, khi quyền biểu quyết và quyền ngân lưu khác biệt nhau, một mức thấp của quyền ngân lưu thất bại trong việc tạo nên sự liên kết hiệu quả để giảm hiệu ứng ngăn chặn và do đó sẽ gia tăng tránh thuế.1: Tổng hợp các kết quả nghiên cứu thực nghiệm Cấu trúc Nghiên cứu Nội dung nghiên Kết quả sở hữu cứu - Morck (1988) Quyền kiểm soát - McConnell và (VR) và hành vi Servaes (1990) tránh thuế có mối quan hệ cùng chiều - Shleifer và Vishny do ảnh hưởng của (1997) hiệu ứng ngăn chặn - Klassen (1997) (entrenchment - La Porta và cộng sự Nghiên cứu ảnh effect) (1997, 1998) hưởng của quyền (+) Quyền - Fan và Wong (2002) kiểm soát đến hành kiểm soát vi tránh thuế của (VR) - Desai và Dharmapala doanh nghiệp (2006) - Bertrand và cộng sự (2008) - Chen và cộng sự (2010) - Richardson, Wang và Zhang (2016), - Morck và cộng sự Quyền kiểm soát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 (1988) (VR) và hành vi - McConnell và tránh thuế có mối Servaes (1990) quan hệ ngược chiều do ảnh hưởng - Shleifer và Vishny của hiệu ứng liên (1986) kết (alignment - Gomes (2000) effect) - Fan và Wong (2002) (-) - Richardson, Wang và Zhang (2016) - La Porta và cộng sự Nghiên cứu ảnh Sự khác biệt giữa (1998, 1999) hưởng khi tồn tại sự quyền biểu quyết - Classens và cộng sự khác biệt giữa quyền (voting rights) và (2000, 2002) kiểm soát (VR) và quyền ngân lưu Sai biệt quyền ngân lưu (CR) (cash-flow rights) giữa - Francis và cộng sự có tác động đồng quyền (2005) biến đến hành vi kiểm soát - Masulis và cộng sự tránh thuế của và quyền (2009) doanh nghiệp.
ngân lưu - Chen và cộng sự, (VR_CR) 2010 - Richardson, Wang và Zhang (2016) Quyền - La Porta và cộng sự Nghiên cứu ảnh Khi quyền kiểm ngân lưu (1998, 1999) hưởng của quyền soát (VR) vượt quá (CR) - Classens và cộng sự ngân lưu đến hành vi (CR) thì CR không LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 (2000, 2002) tránh thuế của doanh có ảnh hưởng đến - Francis và cộng sự nghiệp hành vi tránh thuế (2005) của doanh nghiệp. Do hiệu ứng ngăn chặn lớn hơn hiệu ứng liên kết. Nguồn: Tác giả tổng hợp Bảng tóm tắt các nghiên cứu ở trên cho thấy mối quan hệ phi tuyến giữa sở hữu và hành vi tránh thuế tại các thị trường được nghiên cứu. Ban đầu khi sở hữu tăng, doanh nghiệp tránh thuế càng nhiều.
Khi sở hữu vượt quá ngưỡng mà tại đó chi phí của việc tránh thuế lớn hơn lợi ích của cổ đông kiểm soát thì sở hữu gia tăng sẽ làm giảm hành vi tránh thuế. Bên cạnh đó nếu trong doanh nghiệp tồn tại khác biệt giữa quyền kiểm soát và quyền sở hữu, vai trò của quyền kiểm soát sẽ vượt quyền sở hữu từ đó tránh thuế nhiều hơn. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu đều nghiên cứu tại những nền kinh tế phát triển như Mỹ, các nước châu Âu hay tại Trung Quốc… Chính vì vậy cần một nghiên cứu cho thị trường mới nổi như Việt Nam. Tác giả lựa chọn bài nghiên cứu của Richardson, Wang và Zhang (2016) làm bài nghiên cứu gốc vì: - Việt Nam có nền chính trị tương đồng với Trung Quốc, mang những đặc điểm và truyền thống tương tự nhau.
Chính sách quản lý của nhà nước cũng có những nét tương đường. - Nghiên cứu này này được thực hiện năm 2016 nên có tính cập nhật mới nhất phù hợp với những diễn biến thay đổi của nền kinh tế thế giới. - Bài nghiên cứu được đăng trên tạp chí được xếp hạng uy tín về kinh tế nên phương pháp, nội dung và kết quả nghiên cứu đã được kiểm duyệt một cách nghiêm ngặt. Vì vậy, tác giả nhận thấy việc lựa chọn bài nghiên cứu gốc để làm nền tảng cho nghiên cứu tại Việt Nam là phù hợp.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3. Mẫu và dữ liệu nghiên cứu Mẫu nghiên cứu: việc lựa chọn đối tượng quan sát của tác giả cũng dựa vào một số tiêu chí nhất định. Nghiên cứu tập trung vào các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, bao gồm cả Sở GDCK TP.