chương 1 là trình bày bố cục của bài nghiên cứu bao gồm 5 chương và trong 5 chương đó tác giả sẽ kết luận lại bài và đề xuất ra những giải pháp. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Cơ sở lý thuyết về nợ xấu của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm nợ xấu Nợ xấu trong tiếng anh được gọi là “Non – performing loan” hay được biết đến bằng những từ ngữ khác như là “Bad debt” hoặc “Dounbtful debt”.
Theo Moh Benny Alexandri and Teguh Iman Santoso (2015) có quan điểm rằng nợ xấu sẽ tác động đến những yếu tố ngoại sinh và nội sinh. (2010) thì cho rằng nợ xấu chỉ là các khoản vay không còn thu hồi được vốn gốc và tiền lãi và có thời gian quá hạn là trên 90 ngày. Theo quan điểm của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS): Dù chưa đưa ra một khái niệm khái quát về nợ xấu, nhưng trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng. BCBS xác định khoản nợ được coi là không có khả năng hoàn trả khi cả hai điều kiện xảy ra hoặc một trong hai: ngân hàng tình trạng không còn khả năng trả nợ đầy đủ của người vay khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi nợ; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày.
Dựa trên hướng dẫn này thì nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ những khoản vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. Theo quan điểm của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF (2004): “Nợ xấu là một khoản vay không sinh lời khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày trở lên; khi các khoản lãi đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản).” Đồng quan điểm với IMF thì AEG (2004) của Liên hợp quốc cho thấy rằng về cơ bản, một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận, hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn 9 dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản nợ sẽ được thanh toán đầy đủ. Tại Việt Nam, theo quan điểm của NHNN, nợ xấu là các khoản nợ khó đòi khi người vay không còn có thể trả nợ khi đến hạn phải thanh toán theo như hợp đồng tín dụng đã cam kết. Cụ thể, nếu quá thời gian quá hạn thanh toán trên 90 ngày thì bị coi là nợ xấu.
Theo khoản 8 Điều 3 Thông tư 11/2021/TT-NHNN thì nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 được quy định tại Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN. Tóm lại, tổng hợp từ các quan điểm khác nhau ở trên thì ta có thể hiểu rằng nợ xấu là sự mất khả năng trả nợ của người đi vay với thời gian quá hạn thanh toán hơn 90 ngày. Phân loại nợ xấu 2. Tại Việt Nam Tại Việt Nam, theo Thông tư số 11/2021/NHNN, các tổ chức tín dụng được phân các nhóm nợ thành 5 nhóm như sau: (1) Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn (Các khoản nợ còn thời hạn, có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn); (2) Nhóm 2: Nợ cần chú ý (Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn và trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại); (3) Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn (Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại); (4) Nhóm 4: Nợ nghi ngờ (Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại); (5) Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn (Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; các khoản nợ đang chờ Chính phủ xử lý, các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại).
Từ đó, nợ xấu là khoản nợ bao gồm nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn).1 Bảng tóm tắt về các nhóm của nợ xấu tại Việt Nam Nhóm Mức độ Thời gian nợ quá hạn 1 Nhóm nợ đủ tiêu chuẩn <10 ngày 2 Nhóm nợ cần chú ý 10 – 90 ngày 3 Nhóm nợ dưới tiêu chuẩn 91 – 180 ngày 4 Nhóm nợ nghi ngờ bị mất vốn 181 – 360 ngày 5 Nhóm nợ có khả năng mất vốn >360 ngày Nguồn: Khoản 1 Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN 2. Trên thế giới Trên thế giới, việc phân loại nợ lại có nhiều sự khác biệt giữa các quốc gia. Bholat và cộng sự (2016) đã nghiên cứu và phân tích sự khác biệt về phân loại nợ của các nước. Cụ thể, tại Úc, Pháp và Liên minh Châu Âu, không có phân loại rõ ràng các nhóm nợ và nợ xấu.
Thay vào đó, nợ xấu được coi là các khoản nợ bị nghi ngờ khả năng hoàn trả và quá thời hạn thanh toán trên 90 ngày. Còn ở các quốc gia khác như Argentina, Trung Quốc, Nhật., các khoản nợ được phân loại thành từ 3 đến 6 nhóm và có nét khá tương đồng (Chi tiết được trình bày tại Bảng 2. Như vậy có thể thấy, Việt Nam có cách phân loại nợ khá tương đồng với nhiều đất nước khác trên thế giới, việc này giúp các tổ chức tín dụng dễ dàng quản lý nợ và đưa ra mức dự phòng rủi ro tín dụng phù hợp. Từ đó, giúp các ngân hàng hạn chế các rủi ro và tổn thất phải chịu.2 Phân loại nợ tại các quốc gia trên thế giới Quốc gia Các nhóm nợ (1) Nợ đạt tiêu chuẩn; (2) Nợ cần theo dõi; (3) Nợ không Argentina đạt chuẩn; (4) Nợ có rủi ro cao; (5) Nợ khó thu hồi; (6) Nợ không thể thu hồi.
Úc Nợ xấu là khoản nợ không thể thanh toán được toàn bộ 11 khoản vay khi đến hạn, bao gồm cả gốc và lãi mà không bất kể thời gian quá hạn phải là 90 ngày. Các khoản vay được phân loại thành: (1) Nợ quá hạn hơn 90 ngày; (2) Nợ chưa quá hạn 90 ngày nhưng được phân loại E, F, G hoặc H bởi ngân hàng cho vay theo quy định; (3) Nợ tái cơ cấu, phân loại nợ vay theo thang đo 9 Brazil cấp (AA, A, B, C, D, E, F, G hoặc H). Trong đó, a) Từ 15 đến 30 ngày: ít nhất là rủi ro B; b) Từ 31 đến 60 ngày: ít nhất là rủi ro C; c) Từ 61 đến 90 ngày: ít nhất là rủi ro D; d) Từ 91 đến 120 ngày: ít nhất là mức độ rủi ro E; e) Từ 121 đến 150 ngày: ít nhất là rủi ro mức F; f) Từ 151 đến 180 ngày: ít nhất là rủi ro G; g) Hơn 180 ngày: Rủi ro H. Các khoản nợ được phân thành: (1) nợ đạt tiêu chuẩn; (2) Trung quốc nợ cần chú ý; (3) nợ không đạt tiêu chuẩn; (4) nợ nghi ngờ; (5) nợ mất vốn.
Khoản nợ vay nghi ngờ là khi người vay không có khả Pháp năng thanh toán hoặc khi số tiền đến hạn trên 90 ngày. Indonesia (1) Nợ không đạt tiêu chuẩn; (2) Nợ nghi ngờ; (3) Nợ mất vốn. Nợ vay được phân thành các loại sau: (1) Nợ do bị phá Nhật sản hoặc bán phá sản; (2) Nợ nghi ngờ, (3) Nợ cần chú ý đặc biệt và (4) Nợ đạt tiêu chuẩn.” Theo quy tắc phân loại tài sản, có năm phân loại áp dụng cho khoản vay: (1) Nợ đạt tiêu chuẩn; (2) Nợ cần chú ý; Hàn Quốc (3) Nợ không đạt tiêu chuẩn; (4) Nợ nghi ngờ và (5) Nợ bị mất vốn. Các ngân hàng phân loại các khoản vay và khoản phải Thổ Nhĩ Kỳ thu dưới 5 nhóm.
Nhóm 1 - Nợ tiêu chuẩn. Nhóm 2 - Nợ đặc biệt chú ý. Nhóm 3 - Nợ phục hồi hạn chế: do 91- 12 180 ngày hoặc kỳ vọng thu hồi hạn chế do vấn đề tài chính và thanh khoản của con nợ. Nhóm 4 - Nợ phục hồi đáng ngờ (nghi ngờ): do 181-365 ngày hoặc suy giảm đáng kể trong quá trình tín dụng của con nợ nhưng không được coi là mất mát vì kỳ vọng phục hồi một phần.
Nhóm 5 - Nợ bị mất vốn: do hơn 365 ngày hoặc không có kỳ vọng phục hồi do sự suy giảm đáng kể trong quá trình tín dụng của con nợ. Nợ xấu theo các ngân hàng Nam Phi được phân loại là Nam Phi (1) Nợ tiêu chuẩn; (2) Nợ đề cập đặc biệt; (3) Nợ không đạt tiêu chuẩn; (4) Nợ nghi ngờ hoặc mất vốn. Khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trên 90 ngày và Liên minh Châu Âu có khả năng không thể hoàn trả. Nguồn: Tác giả tổng hợp 2.3 Các lý thuyết liên quan đến nợ xấu 2.
Lý thuyết thông tin bất cân xứng Thông tin bất cân xứng (Asymmetric information) xảy ra khi một trong các bên giao dịch không biết tất cả và chính xác những thông tin cần biết về bên kia để đưa ra quyết định chuẩn xác trong giao dịch. Khi đó, giá cả trên thị trường sẽ có thể quá thấp hoặc quá cao so với giá cân bằng của thị trường. Hệ quả của thông tin bất cân xứng hiện nay trên thị trường thông tin bất cân xứng là một dạng của thất bại thị trường tài chính vì nó đã gây ra những lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức. Hệ quả thứ nhất sự lựa chọn bất lợi của ngân hàng là những lựa chọn mà khách hàng cố tình che dấu thông tin và từ chối những khách hàng khác cung cấp đầy đủ thông tin đưa đến kết quả sai lầm trong hoạt động cấp tín dụng và không hiệu quả trong cấp tín dụng.
Những khách hàng có rủi ro cao thường là những người sẵn sàng chấp nhận mọi đều khoản mà ngân hàng đưa ra một cách nhanh chóng để nhận tiền một cách nhanh nhất dẫn đến rủi ro cao và nợ xấu ngân hàng sẽ tăng.