Chương I: Cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và các yếu tố ảnh hưởng. Chương 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Vào năm 2010, trong bài nghiên cứu “Capital Structure and Firm Performance: Evidence from Nigeria”, Onaolapo và Kajola thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh dưới góc độ tài chính, được đại diện bởi chỉ số ROA, ROE Bài viét “Capital structure and corporate performance: evidan from Jordan” trong Autralasian Accounting Business and Finance Journal, 2007, 2 tac gid Zeitun, R. đã thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và giá trị thị trường của doanh nghiệp. Dữ liệu nghiên cứu được thực hiện từ năm 1989 ~ 2003 của 167 công ty niêm yết trên sản giao dịch chứng khoán Amman — Jordan thuộc 16 ngành nghề kinh doanh khác nhau trong lĩnh vực phi tài chính. Abbasali Pouraghajan và Esfandiar Malekian có bài viết “The Relationship between Capital Structure and Firm Performance Evaluation Measures Evidence from the Tehran Stock Exchange” vao nam 2012 nghién cứu tác động của cơ cất én đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp với mẫu nghiên cứu là 400 công ty thuộc 12 ngành công nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran trong những năm 2006 - 2010.
Maja Pervan va Josipa Visic trong bai viét “Influence of firm size on its business success” muc tiéu nghiên cứu ảnh hưởng quy mô Doanh nghiệp đối với HQKD. Bên cạnh đó tác giả cũng xem xét hoạt động của Doanh nghiệp còn bị ảnh hưởng bởi nhân tố chủ quan nào xuất phát từ nội lực Doanh nghiệp và nhân tố khách quan nào bên ngoài Doanh nghiệp. Vao năm 2011, Marian Siminica, Daniel Circiumaru, Dalia Simion da thuc hién nghién ciru “ Determinants of Profitability: What factors play a role when assessing a firm’s return on assets? ” nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lời tài sản và các chỉ tiêu tài chính của 40 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Bucharest của Romania trong4 năm từ năm 2007 - 2010. Tại Việt Nam, luận văn “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu.
quả hoạt động kinh doanh của các công ty ngành sản xuất chế biến thực phâm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của Nguyễn Lê Thanh Tuyển (2013), “Theo giáo trình Phân tích tài chính - Đại học Đà Nẵng “Hiệu quả kinh doanh” là xem xét hiệu quả sử dụng toàn bộ các phương tiện kinh doanh trong quá trình sản xuất, tiêu thụ. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE CAC YEU TO ANH HUONG TAC DONG DEN HIEU QUA HOAT DONG KINH DOANH 1. TONG QUAN VE HIEU QUA HOAT DONG KINH DOANH CUA DOANH NGHIEP 1. Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp Hiệu quả của Doanh nghiệp là đánh giá khả năng đạt được kết quả, khả năng sinh lãi của Doanh nghiệp do mục đích cuối cùng của người chủ sở hữu, của nhà quản trị là bảo đảm sự giàu có, sự tăng trưởng tài sản của Doanh nghiệp.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, Doanh nghiệp phải sử dụng và phát triển tiềm năng kinh tế của mình. Không đảm bảo được khả năng sinh lãi, lợi nhuận tương lai sẽ không chắc chắn, giá trị của Doanh nghiệp sẽ bị giảm, người chủ có nguy cơ bị mắt vốn. Phân tích hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp được đặc trưng bởi việc xem xét hiệu quả sử dụng toàn bộ các phương tiện kinh doanh trong quá trình sản xuắt, tiêu thụ cũng như các chính sách tài trợ. Do vậy hiệu quả hoạt động của một Doanh nghiệp được xem xét trên hai phương diện hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính.
Theo giáo trình Thống kê Doanh nghiệp của Trường Đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh thì hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh lợi ích đạt được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp trên cơ sở so sánh giữa lợi ích thu được với chỉ phí bỏ ra trong quá trình SXKD, biểu hiện mức độ phát triển DN theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực nhằm thực hiện được mục tiêu kinh doanh. Dé dat HQKD cao, DN cần tối đa hóa các kết quả đầu ra trong điều kiện các nguồn lực hạn chế của mình. HQKD thé hiện mối quan hệ tương đối giữa kết quả kinh doanh và phương tiện tạo ra kết quả.
Bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp Từ khái niệm về hiệu quả nêu ở trên đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh doanh là phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực của Doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội và nó chính là hiệu quả của lao động xã hội được xác định trong mối tương quan giữa lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng hao phí lao động xã hội bỏ ra. Hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp phải được xem xét một cách toàn diện cả về không gian và thời gian, cả về mặt định tính và định lượng. Về mặt thời gian, hiệu quả mà doanh nghiệp đạt được trong từng thời kỳ, từng giai đoạn không được làm giảm sút hiệu quả của các giai đoạn, các thời kỳ, chu kỳ kinh doanh tiếp theo. Điều đó đòi hỏi bản thân Doanh nghiệp không được vì lợi ích trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài.
Trong thực tế kinh doanh, này dễ xảy ra khi con người khai thác sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường và cả nguồn lao động. Không thể coi tăng thu giảm chỉ là có hiệu quả khi giảm một cách tuỳ tiện, thiếu cân nhắc các chỉ phí cải tạo môi trường, đảm bảo môi trường sinh thái, đầu tư cho giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực. Vai trò của hiệu quả kinh doanh đối với các Doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh chỉ được coi là đạt được một cách toàn diện khi hoạt động của các bộ phận mang lại hiệu quả không ảnh hưởng đến hiệu quả chung ( về mặt định hướng là tăng thu giảm chỉ ). Điều đó có nghĩa là tiết kiệm tối đa các chỉ phí kinh doanh và khai thác các nguồn lực sẵn có làm sao đạt được kết quả lớn nhất.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh. Khi tiến hành bắt kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì các Doanh nghiệp đều phải huy động và sử dụng các nguồn lực mà Doanh nghiệp có khả năng có thể tạo ra kết quả phù hợp với mục tiêu mà Doanh nghiệp đề ra. Ở mỗi giai đoạn phát triển của Doanh nghiệp thì Doanh nghiệp đều có nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng bao trùm toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở sử dụng tối ưu các nguồn lực của Doanh nghiệp. Để thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cũng như các mục tiêu khác, các nhà Doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phương pháp, nhiều công cụ khác nhau.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một trong các công cụ hữu hiệu nhất để các nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình. ‘Thong qua việc tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh không những cho phép các nhà quản trị kiểm tra đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp (các hoạt động có hiệu quả hay không và hiệu quả đạt ở mức độ nào), mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp, để từ đó đưa ra được các biện pháp điều chỉnh thích hợp trên cả hai phương diện giảm chỉ phí tăng kết quả nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Với tư cách là một công cụ quản trị kinh doanh hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ được sử dụng để kiểm tra, đánh giá và phân tích trình độ sử dụng tông hợp các nguồn lực đầu vào trong phạm vi toàn Doanh nghiệp mà còn được sử dụng để kiểm tra đánh giá trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào trong phạm vi toàn doanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của Doanh nghiệp. Do vậy xét trên phương diện lý luận và thực tiễn thì phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng và không thể thiếu được trong việc kiểm tra đánh giá và phân tích nhằm đưa ra các giải pháp tối ưu nhất, lựa chọn được các phương pháp hợp lý nhất đề thực hiện các mục tiêu của Doanh nghiệp đã đề ra.
HQKD của DN ngành xây dựng biểu hiện mói tương quan giữa kết quả đầu ra là thu nhập của DN và chỉ phí đầu vào cụ thể như sau: ~ Thu nhập của Doanh nghiệp xây dựng là toàn bộ khoản tiền thu được từ các hoạt động SXKD của DN. Các khoản thu nhập của DN xây dựng bao gồm: Thu nhập bán hàng hay còn gọi là doanh thu từ hoạt động bàn giao công, trình, hạng mục hoàn thành cho đơn vị giao thầu, đây là nội dung chủ yếu, chiết tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu nhập của DN xây dựng. - Thu nhập về tiêu thụ sản phẩm từ các hoạt động kinh doanh của DN xây dựng. ~ Thu nhập từ các hoạt động đầu tư tài chính vào các đơn vị khác, bao gồm.
các khoản thu từ hoạt động liên doanh, góp vốn, đầu tư tài chính ra ngoài DN. ~ Thu nhập từ các hoạt động tài chính, bao gồm các khoản thu được từ các hoạt động có liên quan đến huy động, quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của DN. Thu nhập từ các hoạt động khác (hoạt động bắt thường) bao gồm các khoản thu nhập không thường xuyên, không ổn định, khó dự kiến trước như thu nhập về thanh lý, nhượng bán tài sản có định. thu từ các khoản nợ không ai đòi.
~ Chỉ phí của DN xây dựng: Chỉ phí SXKD của DN là toàn bộ chỉ phí ma DN phải bỏ ra để thực hiện hoạt động SXKD trong một thời kỳ nhất định. Có rất nhiều cách để phân loại chỉ phí, nếu phân loại chỉ phí theo khoản mục tính giá thành thì chi phí bao gồm: chỉ phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công tiếp, chỉ phí sử dụng máy thi công và chỉ phí sản xuất chung.