MỞ ĐẦU Lấy cảm hứng từ các tính chất cơ bản của graphene và các nghiên cứu mở rộng về các pha điện tử thường và topo trong mạng nguyên tử lục giác, chúng tôi muốn khảo sát sự tổn tại của các pha điện tử và các tính chất topo của chúng trong hệ gồm hai lớp graphene xếp chồng lên nhau với viễn cảnh cho rằng liên kết giữa hai lớp sẽ thiết lập các điều kiện đặc biệt cho sự hình thành các pha điện tử. Mô hình hệ vật lý gồm hai mạng lục giác kết hợp với nhau không phải là mô hình thuần tuý lý thuyết. Thực tế, hệ vật liệu nano gồm hai lớp graphene xếp chồng lên nhau (BLG) là sự hiện thực hoá của mô hình mạng này. BLG là một cấu trúc gồm hai lớp Graphene xếp chồng, mà sự kết dính giữa chúng được thực hiện nhờ các lực liên kết van der Waals.
Đây là hệ vật liệu tiêu biểu của một lớp các hệ vật liệu hai chiều (2D) đa lớp gọi là "dị cấu trúc van đer Waals". Về mặt cấu trúc nguyên tử, graphene là một tập hợp các nguyên tử carbon được liên kết với nhau theo các lai hoá orbital sp, do đó tạo thành một mạng hai chiều hình tổ ong trong đó mỗi nguyên tử carbon là một nút mạng và kết nỗi với 3 nguyên tử carbon khác gần nhất. Liên kết giữa các orbital sp? 1a rat mạnh nên làm cho mạng lục giác này rất bền vững với hằng số mạng la a = accV3 trong đó acc 0, 142 nm là khoảng cách giữa hai nguyên tử carbon gần nhất. Trong hệ BLG, mặc dù hai lớp graphene là đồng nhất về thành phần hoá học và các tham số hình học của mạng, việc xếp chồng hai lớp lên nhau vẫn có một sự tuỳ ý được mô tả mô tả bởi hai tham số: một góc xoay Ø mô tả sự xoay tương đối và một vector trượt 7 song song với mặt phẳng lớp graphene mô tả sự trượt tương đối giữa hai lớp.
Ứng với mỗi bộ giá trị của hai tham số này ta sẽ có một cấu hình mạng BLG cụ thể. Bằng phương pháp bóc tách cơ học (Sco/ch £ape) sử dụng các mẫu than chì chất lượng cao, bên cạnh graphene đơn lớp, người ta dễ dàng thu được các lớp vay than chi (graphite flake) gdm hai lé6p graphene xép theo cau hinh AB, ứng với 0 = 60°. Nói cách khác, cấu hình AB được xem là một cấu hình tự nhiên của hệ BLG. Ngày nay, các mạng graphene đơn lớp kích thước lớn và chất lượng cao đã được tạo ra bởi nhiều phương pháp và kỹ thuật tiên tiến.
Kỹ thuật “transfer” lớp graphene này lên lớp graphene khác cho phép dễ dàng tạo ra không chỉ các hệ BLG mà còn cả các hệ gồm nhiễu lớp graphene. Các kỹ thuật xếp chồng các lớp vật liệu hai chiều lên với 12 nhau được gọi chung là các phương pháp dựa theo nguyên lý xếp hình lego. Trên cơ sở đó, các nghiên cứu về các cầu hình BLG khác nhau đã được thực hiện và cho thấy vật lý của hệ BLG rất phong phú. Cụ thể, các tính chất của hệ BLG phụ thuộc vào các tham số Ø và 7 vì chúng thực chất xác định quy luật liên kết giữa các trạng thái điện tử giữa hai lớp mạng thành phần với nhau.
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này là áp dụng mô hình Haldane vào hệ mạng lục giác hai lớp xếp chồng để nghiên cứu sự tổn tại của các pha điện tử mà hệ hai lớp này có thể chứa đựng cũng như khảo sát tính chất topo của chúng. Cụ thể, chúng tôi muốn xem xét liệu có thể tổn tại các pha điện môi thường và điện môi topo, cũng như các pha kim loại thường và pha kim loại topo, khi thay đổi các thông số động lực của mô hình. Chúng tôi cũng khảo sát ảnh hưởng của các thông số hình học của mạng, bởi các cấu hình xếp chồng khác nhau, lên sự hình thành của các pha điện tử này. Mục tiêu nghiên cứu đạt được về mặt lý thuyết bằng cách sử dụng mô hình tight-binding và thực hiện các tính toán và phân tích dựa trên cầu trúc vùng năng lượng và các trạng thái riêng tương ứng của hệ.
Theo đó, nội dung của luận văn được chia thành bốn phần chính như sau: 1. Tổng quan nghiên cứu: trình bày hiểu biết về các chủ để và xu hướng nghiên cứu đã và đang được tiễn hành trên thế giới liên quan đến hệ vật ñệu và mô hình mà chúng tôi lựa chọn, và tổng quan về toàn bộ nghiên cứu của chúng tôi trong luận văn này. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: trình bày chi tiết về đặc điểm và các mô hình được xây dựng cho hệ vật liệu mà chúng tôi chọn, những tính chất và đại lượng mà chúng tôi quan tâm khảo sát, cùng với các phương pháp tính toán và phân tích. Kết quả và thảo luận: nêu ra kế hoạch khảo sát, sau đó trình bày và phân tích kết quả tính toán thu được theo kế hoạch đó và rút ra các kết luận nhất định.
Kết luận: đưa ra kết luận chung của chúng tôi về những kết quả đã đạt được sau khi làm luận văn, và ý nghĩa của luận văn này đối với toàn bộ quá trình học tập đã trải qua cũng như con đường học thuật trong tương lai. TONG QUAN NGHIÊN CỨU 1,1. Tình hình nghiên cứu hiện này Nguằn cảm hứng với graphene đã và đang tăng rất mạnh trong những năm gin đây, và vật lý của cúc hệ dựa trên các mạng vật liệu hình lục giác hiện đang trở thành một trong những chủ để thú vị nhất cũng như tiên triển nhanh nhất trong Vật lý chất đặc. Ciải Nobel vat ly được trao cho À.
Geim và K, Novoselov năm 2010 đã tạo động lực lên cho chủ để này. Mặc dù chủ để này vẫn còn ở giai đoạn sơ khai, nhưng tiểm năng khoa học và công nghệ của loại vật liêu này đường như là vô hạn. Sự biểu biết vù kiểm soát các tính chất của loại vật liệu này sẻ mở ra cánh cửa cho một vùng đắt mới trong lĩnh vực điện tử Bilayer Graphene Mos, Hình f.!: Một số ví dụ về các vật liệu có cầu trúc mạng lục giác |I, 2, 3, 4]. “Trong số các hệ vật liệu có cầu trúc mạng tổ ang, graphene - mội.
dạng thù hình hai chiễu cúa cacbon - là đại điện nổi tiếng nhất và đóng vai trò quan trọng như lã cơ sở để hiểu các tính chất trong các dạng thù hình khác của cachon thuần túy, cũng như trong các vật liệu mạng lục giác khác như Silieene, Germanene hay Boron nitride, v. Các hệ vật liệu dựa trên mạng lục giác thể hiện vô sỐ cấu trúc khác nhau với nhiều tính chất vật lý phong phú. Những tính chất này có liên quan mạnh mế đến xố chiều của cấu trúc mạng eủa các hệ vật liệu này. Wallaoe |5J là ugười dẫu tiên đưa ra nghiền cứu lý thuyết về cấu trúc 14 vùng năng lượng của graphene, sử dụng xấp xỉ đơn giản nhất của mô hinh tight- binding (7) ở lân cận gần nhất, cho thấy nó là một bán kim loại với các kích thích điện tử theo đường cong tán sắc tuyến tính bắt thường ở vùng năng lượng thấp tại các điểm K của vùng Brillouin, hay còn gọi là các "điểm Dirac".
Đây là một trong những khía cạnh thú vị của graphene. Ở vùng năng lượng này, hành xử của điện tử trong øraphene giông như các fermion Dirac không khối lượng, có tính chirai, do đó chúng được gọi là điện tử Dirac. Sự tuyến tính của đường cong tán sắc trong vùng này thể hiện vật lý của Điện động lực học lượng tử cho các fermion không khối lượng, trừ thực tế rang trong graphene, cdc dién tt Dirac cé van t6c Fermi vp 108 m⁄s, nhỏ hơn khoảng 300 lần so với vận tốc ánh sáng trong chân không. Do đó, nhiều tính chất đặc biệt trong QED có thể xuất hiện trong graphene nhưng ở vận tốc nhỏ hơn nhiều [6, 7, 8].
Các điện tử Dirac hành xử theo những cách khác thường so với các điện tử thông thường dưới tác dụng của từ trường, dẫn đến các hiện tượng vật lý mới như hiệu ứng Hall lượng tử nguyên @HE) dị thường [9] đã được phát hiện trong thực nghiệm [10], hay độ dẫn cực tiểu khác không khi mật độ hạt tải điện tiến về không [11]. Ngoài ra, các diện tử Dirac thể hiện tính tro (insensitivity) d6i véi cdc thé nang tĩnh điện bên ngoài, cái được gọi là nghịch lý Klein. Người ta đã phát hiện ra rằng graphene cũng thể hiện các hiệu ứng bất thường ở kích thước meso [12, 13]. Những hiệu ứng này bắt nguồn từ các điều kiện biên áp lên hàm sóng trong các mẫu meso với nhiều hình dạng biên khác nhau mà mạng lục giác có thể có, chẳng hạn như các đải nano một chiều.
Hai loại biên được nghiên cứu nhiéu nhat, zigzag va armchair, thể hiện các tính chất điện tử rất khác nhau. Các biên zigzag có thể duy trì các trạng thái biên và các cộng hưởng vốn không có mặt trong trường hợp biên armchair. Các điều kiện biên của graphene ảnh hưởng mạnh đến độ dẫn của nó. Ngoài ra, tính chiral của các điện tử Dirac trong graphene có thể được khai thác cho các ứng dụng trong đó người ta kiểm soát thay đối "valley" của các điện tử, bên cạnh điện tích của nó - một lĩnh vực mới nổi được gọi là "Valleytronics" [14].
Hơn nữa, khi các đầu siêu dẫn được gắn vào graphene, dòng siêu dẫn phát triển cùng với các quá trình Andreev đặc trưng của hiệu ứng tiệm cận siêu dẫn [15]. Bên cạnh graphene don lớp, graphene hai lớp xếp chồng (BLỚ) cũng đang mang đến nhiều chủ để nghiên cứu phong phú và thú vị. Xếp chồng hai hay nhiều lớp 15 mạng lục giác cho ta một số vô hạn các cấu hình mới của hệ kết hợp vì các lớp có thể được xếp tương đối với nhau theo vô số cách. Hai kiểu xếp chồng đặc biệt điển hình có đối xứng cao nhất của hệ BLG là xếp AA (AA-sfacked graphene) và xếp AB (AB-siacked graphene) hay còn gọi là câu hình "Bernal".
Nhìn chung, việc xếp chồng hai hay nhiều lớp mạng vật liệu có thể phân vào hai kiểu chính, đó là "xoắn" (wisting) và "trượt" (sliđing). Các câu hình graphene hai lớp xoắn (TBƠ), trong đó hai lớp được xoay tương đối với nhau một góc Ø quanh một trục vuông góc với mặt phẳng lớp, cũng có thể đạt được mức độ đối xứng cao như cấu hình xếp AA hoặc AB, tùy thuộc vào giá trị góc xoắn.