CHƯƠNG 1. NHÔM VÀ HỢP KIM NHÔM BIẾN DẠNG 1. Đặc điểm về tổ chức, tính chất của nhôm Ngày nay nhôm là kim loại rất quen thuộc trong đời sống, với sản lượng nhôm và hợp kim nhôm đứng ở vị trí thứ hai sau thép. Hợp kim nhôm có ưu điểm chính là: trọng lượng riêng nhỏ (độ bền riêng của hợp kim nhôm khoảng 16,5 Km so với của thép là 15,4 Km), độ dẫn nhiệt, dẫn điện tốt, khả năng chống ăn mòn trong nhiều môi trường khá tốt.
Khi nhôm tương tác với các nguyên tố khác tạo ra các hợp kim nhôm với những ưu điểm vượt trội, dùng làm vật liệu kết cấu trong công nghiệp, trong xây dựng, dân dụng, … Nhôm là kim loại không có chuyển biến thù hình, có kiểu mạng tinh thể là mạng lập phương diện tâm với thông số mạng a = 4,04 Å. Đường kính nguyên tử 2,86 Å, cấu hình điện tử của nhôm có dạng 1s22s22p6 3s23p1, thế ion hoá của điện tử lớp 3p bằng 5,98 eV, của điện tử lớp 3s bằng 18,82 eV và 28,44 eV. Tương ứng với các thế ion ấy, có thể xuất hiện các ion Al+1 và Al+3. Bên cạnh ôxít Al2O3 rất bền, có thể tồn tại các hợp chất Al2 O, AlF, AlCl rất kém ổn định.
Khối lượng riêng của nhôm ρ = 2,7 g/cm3, nhôm nguyên chất có tính chống ăn mòn cao do lớp màng ôxít Al2O3 mỏng và rất xít chặt được hình thành trên lớp bề mặt [11]. Tính dẫn điện và dẫn nhiệt của nhôm cao, nhiệt độ nóng chảy thấp. Cơ tính của nhôm sạch thấp nên ít được sử dụng làm các chi tiết máy. Một số tính chất vật lý quan trọng của nhôm được trình bày ở (bảng 1.
Các tính chất vật lý cơ bản của nhôm Số thứ tự 13 Khối lượng nguyên tử, (g/mol) 26,981 Hoá trị 3 Cấu trúc mạng tinh thể fcc Nhiệt độ nóng chảy, (oC) 660,24 Nhiệt độ sôi, (oC) 2520 Nhiệt dung riêng trung bình (0 - 100 o C), (cal/g.oC) 0,219 Độ dẫn nhiệt (0 - 100 oC), (cal/cms.oC) 0,57 Hệ số giãn nở (0 - 100 oC) (x10 -6/oC) 23,5 Điện trở suất ở 20 oC, (µΩcm) 2,69 Khối lượng riêng ở 20 o C, (g/cm3) 2,698 Môđun đàn hồi E, (GPa) 70,6 Môđun trượt G, (GPa) 27 Hệ số Poisson 0,34 Nhôm nguyên chất rất dẻo Ψ = 85 %, δ = 40 % nên rất dễ biến dạng ở trạng thái nguội và trạng thái nóng. Tính gia công cắt của nhôm thấp do nhôm dẻo nên phoi quánh. Các tạp chất thường có của nhôm là sắt (Fe), silic (Si). Sắt là nguyên tố có hại, do sắt tạo với nhôm pha tương ứng với công thức FeAl3 dòn, nên với lượng sắt dù nhỏ, ở biên giới hạt vẫn có cùng tinh (Al + FeAl3).
Tổ chức này làm giảm mạnh độ dẻo của nhôm vì vậy lượng sắt cho phép trong nhôm kỹ thuật rất nhỏ (tổng lượng tạp chất Fe + Si + Cu + Zn + Ti + … không vượt quá 0,05 % trong nhôm độ sạch cao và 1 % trong nhôm kỹ thuật). Cơ tính của nhôm phụ thuộc vào độ sạch và trạng thái gia công biến dạng. Độ sạch càng cao nhôm càng dẻo, còn trong một giới hạn nhất định 12 biến dạng nguội càng lớn nhôm càng bền, tuy nhiên độ dẻo sẽ giảm. Đối với nhôm sạch 99,996 % sau cán nguội có σ b = 114 MPa, sau khi ủ giảm xuống còn σb = 48 MPa, độ dãn dài tương ứng với hai trạng thái này là δ = 5,5 % và 48,8 %.
Nhôm là kim loại có hoạt tính hoá học cao, ở ngoài không khí tạo màng ôxít nhôm. Màng ôxít nhôm không có rỗ xốp, độ xít chặt cao và liên kết bền với nền kim loại. Chiều dày của màng này phụ thuộc vào nhiệt độ, ở nhiệt độ thường màng này dày khoảng 5 - 10 nm, khi nung lên nhiệt độ cao gần nhiệt độ chảy, chiều dày của màng có thể tới 200 nm. Do vậy nhôm có tính ổn định ăn mòn khá cao trong nhiều môi trường hoá học.
Khả năng chống ăn mòn của nhôm phụ thuộc vào thành phần tạp chất và đặc tính của môi trường, đối với môi trường có hỗn hợp axít HCl và HF hoặc môi trường kiềm NaOH nhôm bị ăn mòn rất nhanh. Nhôm nguyên chất mềm, dẻo, chống ăn mòn và dẫn điện tốt. Được sử dụng ở dạng tấm và dây cáp dẫn điện. Để làm vật liệu kết cấu, chế tạo những chi tiết yêu cầu độ bền cao thì nhôm nguyên chất không đáp ứng được độ bền.
Vì vậy phải hợp kim hoá nhôm để tạo ra các hợp kim đáp ứng yêu cầu độ bền cao, ví dụ ứng dụng trong ngành hàng không, xe cộ, khí tài quân sự, … 1. Tương tác của nguyên tố hợp kim với nhôm Qua các nghiên cứu khả năng hoà tan của nguyên tố hợp kim vào nhôm [11] chỉ ra rằng không có nguyên tố hợp kim nào tạo được với nhôm dung dịch rắn hoà tan vô hạn. Độ hoà tan tăng lên theo vị trí sắp xếp nguyên tố gần nhôm trong bảng tuần hoàn Mendeleev. Các nguyên tố Bi, Na, Pb, Cd,.
ngay ở trạng thái lỏng cũng chỉ hoà tan có hạn và tạo ra giản đồ dạng đơn tinh. Các nguyên tố kim loại chuyển tiếp Ti, Mo, Zr, và Cr tạo ra giản đồ dạng bao tinh có hợp chất hoá học. Các 13 nguyên tố còn lại tạo với nhôm giản đồ có phản ứng cùng tinh [11] (bảng 1. Đặc tính tương tác của một số nguyên tố thường gặp với nhôm Số thứ tự Nhiệt Độ hoà tan trong bảng độ nóng Dạng giản đồ pha Kim loại cực đại tuần hoàn chảy từ phía nhôm Mendeleev (o C) (theo khối lượng) Liti 3 179 Cùng tinh có HCHH 6,67 Berili 4 1264 Cùng tinh không có HCHH 0,05 Bor 5 2300 Cùng tinh có HCHH 0,05 Natri 11 97,7 Đơn tinh không có HCHH 0,002 Magie 12 651 Cùng tinh có HCHH 17,40 Silic 14 1440 Cùng tinh không có HCHH 1,65 Titan 22 1665 Bao tinh có HCHH 0,28 Vanadi 23 1900 Bao tinh có HCHH 0,37 Crom 24 1875 Bao tinh có HCHH 0,72 Mangan 25 1248 Cùng tinh có HCHH 1,40 Sắt 26 1535 Cùng tinh có HCHH 1,40 Niken 28 1455 Cùng tinh có HCHH 0,05 Đồng 29 1083 Cùng tinh có HCHH 5,65 Kẽm 30 419,5 Cùng tinh không có HCHH 85,2 Ziriconi 40 1852 Bao tinh có HCHH 0,28 Molipden 42 2625 Bao tinh có HCHH 0,20 47 960,5 Cùng tinh có HCHH 55,6 Cadimi 48 320,9 Đơn tinh không có HCHH 0,45 Thiếc 50 321,9 Cùng tinh không có HCHH 0,02 Stibi 51 503,5 Cùng tinh có HCHH 0,1 Xeri 58 804 Cùng tinh có HCHH 0,05 Chì 82 327,4 Đơn tinh có HCHH 0,2 Bismut 83 271 Đơn tinh không có HCHH 0,2 14 Các nguyên tố kim loại chuyển tiếp có tác dụng cải thiện độ hạt khi kết tinh và nâng cao tính ổn định chống ăn mòn dưới tác dụng của ứng suất.
Khi có mặt trong nhôm, các kim loại này làm biến đổi rất mạnh tổ chức cả về sự phân bố các pha cũng như hình dạng của biên giới hạt. Thúc đẩy quá trình tiết pha η, T, S từ dung dịch rắn α ở trạng thái nhỏ mịn phân tán, mặt khác chúng tạo nên hình dạng răng cưa và kéo dài biên giới tổng cộng của hạt α. Khi đúc nhôm do nguội nhanh, sự khuếch tán xảy ra không kịp nên trong các thỏi đúc hợp kim nhôm thể hiện rõ nét các đặc tính thiên tích, ở hợp kim nhôm biểu hiện thiên tích vùng thuận và vùng nghịch khá mạnh. Khảo sát thiên tích nhánh cây ta thấy quy luật phân bố nồng độ giảm dần về phía trục nhánh cây của các nguyên tố tạo với nhôm cùng tinh như Cu, Mg, Mn, Si, … Nguyên tố Ti, Zr, Cr, nồng độ của chúng nghèo dần khi đi từ trục nhánh cây ra ngoài biên giới.
Hậu quả của thiên tích nhánh cây tạo ra tổ chức thừa như các cùng tinh thừa bao quanh biên giới hạt trong tổ chức tế vi của hợp kim nhôm biến dạng. Bằng cách áp dụng ủ khuếch tán có thể khử bỏ được dạng thiên tích này để tránh ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Tổ chức hợp kim nhôm biến dạng nhỏ mịn, mật độ xít chặt so với sau khi đúc, thiên tích nhánh cây, rỗ xốp bọt khí giảm đi đáng kể. Phân loại hợp kim nhôm Do có độ bền cao hơn, nên hợp kim nhôm được sử dụng rộng rãi hơn trong kỹ thuật.
Hầu hết các hợp kim nhôm thông dụng hiện nay được chế tạo bằng cách nấu chảy. Theo giản đồ pha các hợp kim nhôm được phân thành hợp kim nhôm đúc và hợp kim nhôm biến dạng (hình 1. 15 T, o C L L+α α I II Cùng tinh α + βII a c Al % Me 1 2 Hình 1. Sơ đồ phân loại hợp kim nhôm theo giản đồ pha I - Hợp kim nhôm biến dạng; II - Hợp kim nhôm đúc 1 - Hợp kim nhôm biến dạng không hoá bền bằng nhiệt luyện 2 - Hợp kim nhôm biến dạng có hoá bền bằng nhiệt luyện Hợp kim nhôm biến dạng là hợp kim nhôm có thành phần các nguyên tố hợp kim nằm trong giới hạn của dung dịch rắn α, tức là ở bên trái điểm (c).
Hợp kim nhôm biến dạng không chứa cùng tinh nên dễ biến dạng không những ở nhiệt độ vùng một pha mà ngay cả ở nhiệt độ thường. Các hợp kim bên trái điểm (a) là các hợp kim nhôm biến dạng không hoá bền được bằng nhiệt luyện, còn các hợp kim ở bên phải điểm (a) (thành phần từ a đến c) là các hợp kim nhôm biến dạng hoá bền được bằng nhiệt luyện. Các hợp kim này ở nhiệt độ thường ngoài dung dịch rắn α còn có pha thứ hai, khi nung nóng pha này hoà tan vào dung dịch rắn, khi làm nguội nhanh sẽ nhận được dung dịch rắn quá bão hoà. Dưới tác dụng của năng lượng (quá trình nung nóng, hoặc biến dạng) dung dịch rắn quá bão hoà này sẽ bị phân hoá tiết ra các pha phân tán làm tăng độ bền của hợp kim.
Các nhóm hợp kim này được 16 sử dụng nhiều do khả năng biến dạng tạo hình thuận lợi cũng như sự thay đổi tổ chức và cơ tính, đạt được khả năng làm việc tốt hơn. Các hợp kim bên phải điểm (c) trong tổ chức chứa cùng tinh có nhiệt độ nóng chảy thấp được xếp vào loại hợp kim nhôm đúc, các hợp kim nhôm đúc trước cùng tinh có tổ chức (α + cùng tinh) có thể được tăng bền bằng nhiệt luyện, nhưng hiệu quả hoá bền giảm dần khi nồng độ tiến dần tới điểm cùng tinh. Do có nhiều pha thứ hai dòn (thường là hợp chất hoá học) nên các hợp kim này thường dòn, khó biến dạng.