Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu như cơ sở hình thành, mục tiêu, phương pháp, bố cục đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết trình bày các lý thuyết, những khái niệm về cấu trúc vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn. Đồng thời, nêu ra những nghiên cứu thực nghiệm trước đây ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu trình bày về phương pháp, mô hình sẽ nghiên cứu về đề tài nhằm mục đích trả lời câu hỏi nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị. 3 c CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 KHÁI NIỆM CẤU TRÚC VỐN, CẤU TRÚC VỐN TỐI ƯU, NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm về cấu trúc vốn Xét về mặt học thuật, theo tác giả nghiên cứu Trần Ngọc Thơ và cộng sự (2007) thì cấu trúc vốn (Capital Structure) được hiểu như là một thuật ngữ nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng cho việc mua sắm tài sản, phương tiện vật chất hữu hình và hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Hơn nữa, cấu trúc vốn còn được định nghĩa chính là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho các quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Ngoài ra, trong lĩnh vực tài chính, theo tác giả nghiên cứu Brounen và cộng sự (2005) đã khẳng định rằng: cấu trúc vốn đề cập đến phương thức mà một công ty hay doanh nghiệp nào đó tài trợ cho nguồn huy động thông qua việc kết hợp các loại vốn ngắn hạn và dài hạn (bao gồm vốn chủ sở hữu, nợ và chứng khoán lai) Bên cạnh đó, theo tác giả nghiên cứu Çağlayan và Şak (2010) cho rằng cấu trúc vốn còn được hiểu như là thành phần đòn bẩy tài chính hoặc “cơ cấu” (structure) nợ phải trả của doanh nghiệp và giải thích cho những biến động về tỷ lệ nợ trên toàn công ty.
Hơn nữa, những nghiên cứu trước đây như nghiên cứu của Gropp và Heider (2009), Octavia và Brown (2008), v.v… đã sử dụng biến đại diện cho cấu trúc vốn ngân hàng (biến phụ thuộc) là biến đòn bẩy tài chính. Về mặt học thuật, đòn bẩy tài chính (Financial Leverage) là khái niệm được hiểu là có liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực tài trợ (vay nợ). Nó thể hiện mức độ các khoản nợ trong cơ cấu nguồn vốn. Đòn bẩy tài chính xuất hiện khi doanh nghiệp quyết định tài trợ cho phần lớn tài sản của mình bằng nợ vay.
Tóm lại, nghiên cứu về cấu trúc vốn chính là nghiên cứu về phương thức lựa chọn tỷ lệ phù hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu với mục tiêu là tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp. Hay nói cách khác thì việc xác định cấu trúc vốn cho các doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng thương mại (hiện hữu trên thế giới và cả Việt Nam) nói riêng là đi xác định mức độ đòn bẩy tài chính phù hợp trong cơ cấu nguồn vốn huy động. Một cấu trúc vốn phù hợp là quyết định quan trọng với mọi doanh nghiệp không chỉ bởi nhu cầu tối đa 4 c lợi ích thu được từ các cá nhân và tổ chức liên quan tới doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp mà còn bởi tác động của quyết định này tới năng lực kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh.2 Khái niệm về cấu trúc vốn tối ưu Cấu trúc vốn tối ưu là một thuật ngữ chỉ về cấu trúc vốn mà trong đó cơ cấu nợ trên vốn chủ sở hữu tồn tại dưới dạng “tốt nhất” cho một công ty, khi mà chi phí sử dụng vốn bình quân nhỏ nhất và giá trị doanh nghiệp đạt được lớn nhất. Theo tác giả nghiên cứu Trần Ngọc Thơ và cộng sự (2007) thì cấu trúc vốn tối ưu là một hỗn hợp nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường cho phép tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp.
Với một cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn bình quân được tối thiểu hóa, tổng giá trị các chứng khoán của doanh nghiệp được tối đa hóa. Do đó, cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn tối thiểu được gọi là cấu trúc vốn tối ưu. Về mặt lý thuyết, khoản vay nợ thường cung cấp chi phí vốn thấp nhất. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp càng vay thêm nhiều nợ thì các chi phí phát sinh và rủi ro cũng dần tăng theo.
Khi đó, cấu trúc vốn tối ưu được hiểu như là một sự cân bằng lý tưởng giữa nợ và vốn chủ sở hữu nhằm làm giảm chi phí sử dụng vốn một cách tối thiểu cho các tổ chức, doanh nghiệp, ngân hàng hay công ty. Ngoài ra, tỷ lệ nợ ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp cũng cần được xem xét khi kiểm định về cấu trúc vốn của doanh nghiệp và hướng đến cấu trúc vốn tối ưu. Nó cung cấp một cái nhìn rõ ràng hơn không chỉ về các rủi ro bên ngoài mà còn về các rủi ro tiềm ẩn bên trong. Chính vì vậy, xác định cấu trúc vốn tối ưu là một vấn đề đang được đặt ra không chỉ cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mà còn cho các nhà quản trị trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.3 Khái niệm về ngân hàng thương mại Là một định chế tài chính trung gian, thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ – huy động vốn rồi đem cho vay.
Ngoài ra, ngân hàng còn là nhịp cầu nối giúp lưu chuyển nguồn vốn từ những người thừa vốn đến những người thiếu vốn trong nền kinh tế. Theo luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, ngân hàng thương mại được hiểu như là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác (theo đúng quy định) nhằm mục tiêu lợi nhuận. 5 c Tóm lại, một cách tổng quát, ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng thương mại Việt Nam nói riêng chính là nhịp cầu nối, là những chiếc xe trung chuyển giúp chuyên chở và trao đổi những luồng tiền khác nhau giữa các chủ thể (tưởng chừng như không thể nào giao dịch được) đến với nhau, và rồi đáp ứng nhu cầu của nhau trong nền kinh tế. Vô hình trung, ngân hàng thương mại đã trở thành một mắc xích quan trọng không thể nào thiếu được trong sợi dây kết nối vận hành vòng quay sản xuất hoạt động kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế.2 CÁC CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN (Capital Structure Theories) 2.1 Lý thuyết về cấu trúc vốn của Modigliami và Miller (mô hình MM) Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại bắt đầu với bài nghiên cứu Modigliani và Miller vào năm 1958 (được gọi tắt là học thuyết MM).
Trong công trình khoa học của mình, hai ông đã đi tìm hiểu xem liệu rằng việc lựa chọn cấu trúc vốn có tác động đến giá trị doanh nghiệp hay không; và liệu rằng chi phí vốn tăng hay giảm khi doanh nghiệp tăng hay giảm việc đi vay nợ. Trái với quan điểm truyền thống, với một tập hợp giới hạn các giả định đơn giản hóa rất phổ biến trong lý thuyết về tài chính, hai ông đã khẳng định rằng giá trị doanh nghiệp chỉ tùy thuộc vào các quyết định đầu tư. Song song đó, hai ông còn dựng lên một bức tranh tổng quan: vấn đề lựa chọn giữa vốn chủ sở hữu và nợ không có liên quan gì đến giá trị doanh nghiệp. Nói một cách học thuật, lý thuyết của hai ông đã chỉ ra một chiều hướng: Nếu thị trường vốn được đặt trong một không gian lý tưởng và hoàn hảo thì các doanh nghiệp sẽ có rủi ro kinh doanh giống nhau và tỷ suất sinh lời mong đợi hàng năm giống nhau.
Như vậy, trong thị trường vốn hoàn hảo, rõ ràng là Modigliani và Miller đã khẳng định rằng chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp không chịu tác động bởi việc lựa chọn cấu trúc vốn. Hay nói đúng hơn, tổng giá trị của doanh nghiệp không thể thay đổi bằng cách phân chia các dòng tiền tài trợ thành các dòng khác nhau. Sau đó vào năm 1963, Modigliani và Miller cũng đã đưa ra một nghiên cứu tiếp theo với việc loại bỏ một giả định ban đầu. Theo MM, với môi trường có tồn tại thuế thu nhập doanh nghiệp, việc sử dụng nợ sẽ làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp.
Như vậy, trong mô hình thuế MM (1963), hai ông đã khẳng định rằng cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị doanh nghiệp. Nghĩa là, một khi doanh nghiệp sử dụng nợ càng cao thì giá trị 6 c doanh nghiệp sẽ càng tăng và rồi mức độ gia tăng đạt đến ngưỡng tối đa khi nguồn vốn doanh nghiệp được tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay. Tuy nhiên, lý thuyết M&M chưa xem xét tác động của một số chi phí khác khiến cho lợi ích của lá chắn thuế bị giảm dần và đi đến triệt tiêu khi công ty gia tăng tỷ số nợ. Đó chính là tác động của chi phí khốn khó tài chính.
Khi công ty gia tăng sử dụng nợ làm cho rủi ro của công ty tăng theo. Điều này làm phát sinh chi phí khốn khó tài chính tác động đồng thời với lợi ích của lá chắn thuế. Đến một điểm nào đó thì chi phí khốn khó tài chính sẽ vượt qua lợi ích của lá chắn thuế. Ở điểm đó, gọi là điểm cơ cấu vốn tối ưu, giá trị công ty đạt cực đại và chi phí sử dụng vốn trung bình đạt cực tiểu.
Khi công ty tiếp tục gia tăng sử dụng nợ, công ty sẽ vượt qua điểm tối ưu, ở đó giá trị công ty bắt đầu giảm và chi phí sử dụng vốn trung bình của công ty bắt đầu tăng. Lợi ích của lá chắn thuế không đủ bù đắp cho chi phí khốn khó về tài chính.2 Lý thuyết chi phí đại diện (the agency theory) Được nghiên cứu bởi Jensen và Meckling vào năm 1976 (thường viết tắt là J-M), xem xét lại mô hình MM với giả định các quyết định đầu tư độc lập với cấu trúc vốn. Qua đó, lý thuyết này đề cập đến vấn đề cấu trúc vốn không chỉ bị tác động bởi những nhân tố bên ngoài mà còn có thể xuất phát từ nội bộ doanh nghiệp. Trong bài nghiên cứu của mình, hai tác giả đã nêu ra vấn đề xung đột lợi ích giữa cổ đông (chủ doanh nghiệp), nhà quản lý và chủ nợ.