Chương 1 – Tổng quan nghiên cứu: Chương này giới thiệu về lý do nghiên cứu đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và giới hạn nghiên cứu, phương pháp thực hiện, ý nghĩa thực tiễn cũng như bố cục của đề tài nghiên cứu. Chương 2 – Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Tác giả trình bày một số lý thuyết có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu của đề tài và các nghiên cứu trước đây của các tác giả trong và ngoài nước để từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu cho đề tài. Chương 3 – Thiết kế nghiên cứu: Chương này sẽ trình bày thiết kế nghiên cứu và các bước trong quá trình nghiên cứu từ phương pháp nghiên cứu sơ bộ đến nghiên cứu chính thức, xác định các biến, xây dựng thang đo và các phương pháp phân tích dữ liệu. Chương 4 – Kết quả nghiên cứu: Tác giả sẽ tổng kết các kết quả kiểm định thang đo, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu của mô hình.
Chương 5 – Kết luận và hàm ý quản trị: Chương này trình bày tóm tắt các kết quả nghiên cứu đã đạt được. Dựa vào kết quả phân tích được, tác giả đề xuất một số hàm ý quản trị dành cho các nhà quản trị doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này sẽ giới thiệu tổng quan về lý thuyết và các nghiên cứu liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài. Phần đầu tiên trình bày những cơ sở lý thuyết liên quan đến Doanh nghiệp, Tín dụng, Khả năng tiếp tín dụng DNVVN.
Tiếp theo, tác giả khảo lược các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến nghiên cứu của đề tài. Thông qua đó, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất, định nghĩa các biến trong mô hình và giả thuyết nghiên cứu cho đề tài nghiên cứu.1 Tổng quan về Doanh nghiệp 2.1 Định nghĩa Doanh nghiệp và các loại hình Doanh nghiệp Theo luật doanh nghiệp 2014 thì “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch được đăng ký thành lập theo quy định của Pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng sản phẩm, dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi.” Hiện nay, Việt Nam có 07 loại hình doanh nghiệp chính sau đây: Doanh nghiệp nhà nước: là tổ chức kinh tế Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (Luật doanh nghiệp 2014). Các hình thức doanh nghiệp nhà nước bao gồm: công ty nhà nước, công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên.
Loại hình doanh nghiệp công ty hợp danh: là loại hình đặc trưng của công ty phải có ít nhất hai thành viên là sở hữu chung của công ty cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (gọi là thành viên hợp danh). Ngoài ra các thành viên hợp danh có thể là thành viên góp vốn; thành viên hợp danh phải là cá nhân chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; thành viên góp vốn chịu trách nhiệm về các khoản nợ 7 của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty; trong quá trình hoạt động công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào, công ty hợp danh có quyền tiếp nhận thêm thành viên hợp danh hoặc thành viên góp vốn (Luật doanh nghiệp 2014). Loại hình doanh nghiệp công ty liên doanh: là loại hình doanh nghiệp cũng ra hai hay nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định giữa chính phủ Việt Nam với chính phủ nước ngoài ngành tiến hành hoạt động kinh doanh các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Việt Nam. Đây là loại hình doanh nghiệp do các bên tổ chức hợp thành, mỗi bên chịu trách nhiệm trong phạm vi góp vốn của mình (Luật doanh nghiệp 2014).
Công ty cổ phần: Là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Công ty phải do Đại hội đồng Cổ đông, hội đồng quản trị và giám đốc hoặc Tổng Giám Đốc. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân số lượng cổ động tối thiểu là 3 và không giới hạn số lượng tối đa; cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi đã góp vốn vào doanh nghiệp; cổ đông có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác theo đúng quy định và công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán và các loại để huy động vốn (Luật doanh nghiệp 2014). Doanh nghiệp của hợp tác xã: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, có ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Liên hiệp hợp tác xã do ít nhất 04 hợp tác sẽ tự nguyện thành lập. khi hợp tác xã, Liên Hợp tác xã phát triển đến trình độ cao hơn sẽ hình thành doanh nghiệp của hợp tác xã, doanh nghiệp của hợp tác xã hoạt động theo luật doanh nghiệp (Luật hợp tác xã 2012). Doanh nghiệp tư nhân: là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân đứng tên làm chủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động cũng như tài sản doanh nghiệp; doanh nghiệp tư nhân không được phát hành chứng khoán; chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và mỗi cá nhân chỉ được thành lập một 8 doanh nghiệp tư nhân. doanh nghiệp tư nhân là công ty trách nhiệm vô hạn và không có tư cách pháp nhân (Luật doanh nghiệp 2014).
Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là loại hình doanh nghiệp phổ biến hiện nay bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó các thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên công ty không vượt quá 50. Công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn điều lệ của doanh nghiệp. công ty trách nhiệm hữu hạn không được phát hành cổ phần (Luật doanh nghiệp 2014).2 Tiêu chuẩn phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển, đặc trưng của doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ thông qua các phản ánh các khía cạnh kinh tế của một quốc gia mà còn là khía cạnh xã hội và văn hóa.
Chính các khía cạnh này mang đến các khái niệm khách nhau. Một số các quốc gia chọn tiêu chí số lượng lao động là tiêu chí cơ bản thì một số khác lại chọn các tiêu chí như: vốn đầu tư, kết hợp từ các tiêu chí số lượng lao động, vốn đầu tư, doanh thu và theo ngành hoạt động. Theo Liên minh Châu Âu, doanh nghiệp nhỏ và vừa phân loại dựa trên 3 tiêu chí: số lượng lao động, doanh thu hàng năm và tổng tài sản hàng năm. Cụ thể, doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 250 lao động, doanh thu hàng năm dưới 50 triệu Euro và tài sản hàng năm dưới 43 triệu Euro thì doanh nghiệp được xếp vào quy mô vừa và nhỏ.
Đối với các doanh nghiệp có dưới 50 lao động, doanh thu hàng năm dưới 10 triệu Euro và tổng tài sản thấp hơn 10 triệu Euro thì được xếp vào quy mô doanh nghiệp nhỏ. Dưới tiêu chuẩn có số lao động ít hơn 10 lao động, doanh thu dưới 2 triệu Euro hoặc tổng tài sản dưới 2 triệu Euro thì được xếp vào quy mô doanh nghiệp siêu nhỏ. Theo ngân hàng thế giới, doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp đáp ứng ít nhất hay trong 3 tiêu chí: nhân viên, tài sản và doanh thu hàng năm. Cụ thể doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có dưới 300 lao động và tài sản hoặc doanh thu hàng năm dưới 15 9 triệu USD, doanh nghiệp nhỏ có dưới 50 lao động và tài sản hoặc doanh thu hàng năm dưới 3 triệu USD, doanh nghiệp siêu nhỏ có dưới 10 lao động và tài sản hoặc doanh thu hàng năm dưới 100 nghìn USD.
Đối với nước ta, theo công văn số 68/CP-KTN của Chính phủ ngày 20 tháng 6 năm 1998, quy định tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa là dựa trên số vốn điều lệ và số lao động của doanh nghiệp. Cụ thể, quy định doanh nghiệp có số vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng về số lao động trung bình hàng năm dưới 200 lao động thì được xếp vào nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong quá trình thực hiện tùy vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể là có thể áp dụng đồng thời cả hai hoặc chỉ một trong hai tiêu chí trên. Để khuyến khích phát triển loại hình doanh nghiệp này năm 2001, chính phủ ban hành nghị định về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo: điều 3, Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 để định nghĩa “ Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động trung bình hàng năm không quá 300 lao động” Tiếp tục chính sách giúp hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP để ban hành ngày 30 tháng 6 năm 2009 đã đưa ra tiêu chí cụ thể hơn thể hiện tại điều 3 của Nghị định.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành 3 cấp siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo quy mô tổng nguồn vốn ( tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân hàng năm ( tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) hai tiêu chí phân loại này có khác nhau tùy thuộc vào khu vực hoạt động loại hình hoạt động được quy định và cụ thể hơn trong bảng bên dưới: 10 Bảng 2.