CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Lý thuyết về rủi ro trong hoạt động ngân hàng 1.1 Khái niệm về rủi ro Khái niệm “rủi ro” đã được các nhà kinh tế học định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Theo từ điển Tài chính ngân hàng của P.Collin, rủi ro được định nghĩa là “khả năng gánh chịu thiệt hại của một chủ thể”. Định nghĩa này thường được sử dụng khá phổ biến trong cuộc sống và trong thực tế quản lý kinh doanh của các chủ thể kinh tế, coi rủi ro là những thiệt hại tiềm tàng các chủ thể phải gánh chịu. Xét trên giác độ nghiên cứu kinh tế, một quan điểm khá phổ biến khác cho rằng rủi ro chính là sự không chắc chắn.
Theo Bernard Manso: “Rủi ro là tác động của những biến cố xảy ra trong trương lai lên giá trị ròng của một chủ thể kinh tế hoặc một danh mục tài sản mà khả năng xảy ra biến cố đó có thể dự đoán trước nhưng không thể dự đoán chính xác biến cố đó sẽ xảy ra như thế nào”. Rủi ro được đo lường bằng độ lệch chuẩn giữa lợi nhuận thực tế của các chủ thể kinh tế với mức lợi nhuận dự kiến. Mức độ biến động của lợi nhuận càng lớn, nghĩa là sự không chắc chắn càng nhiều thì nguy cơ rủi ro càng cao. Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh và rủi ro là hai phạm trù cặp đôi và hoạt động kinh doanh của các NHTM cũng không nằm ngoài sự tác động đó.
Với hoạt động ngân hàng hầu như không có loại nghiệp vụ nào, không có loại dịch vụ nào là không có rủi ro. Bởi lẽ, hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền kinh tế thị trường là một hoạt động rất nhạy cảm, mọi biến động trong nền kinh tế - xã hội đều nhanh chóng tác động đến hoạt động ngân hàng, có thể gây nên những xáo trộn bất ngờ và dẫn đến hiệu quả cả ngân hàng bị giảm sút một cách nhanh chóng. Do vậy, hoạt động kinh doanh của NHTM luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn, nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Hai khái niệm trên được sử dụng đan xen trong quá trình nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM.2 Phân loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng 1.1 Rủi ro tín dụng Theo Quyết định số 493/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN Việt Nam: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tín dụng cho khách hàng và là một tất yếu trong hoạt động của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng bao gồm hai loại chính: Rủi ro do khách hàng không hoàn trả nợ đúng hạn (Rủi ro đọng vốn): khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khoảng thời gian hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên, đến thời hạn mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay, những tổn thất xảy ra trong trường hợp này người ta gọi là rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn. Khi đó có thể dẫn tới đông cứng các khoản vốn, làm cho nó kém lỏng. Rủi ro do khách hàng không có khả năng trả nợ (Rủi ro bị mất vốn một phần hoặc toàn bộ): là rủi ro xảy ra trong trường hợp doanh nghiệp đi vay đã mất khả năng chi trả.
Do vậy, ngân hàng chỉ còn trông chờ vào giá trị thanh lý tài sản của doanh nghiệp để đỡ một phần nợ gốc. Tuy nhiên vấn đề này hết sức khó khăn vì: - Giá trị của tài sản thanh lý giảm nhiều so với thời điểm thẩm định ban đầu. - Tài sản thanh lý đó rất khó bán do tâm lý không ai muốn mua chúng. - Giá trị của tài sản thanh lý thường bị chia sẻ với các chủ nợ ưu tiên trước như: nộp thuế cho nhà nước, trả lương cho cán bộ nhân viên.
Vì vậy, nhiều khi giá trị còn lại về ngân hàng ít hơn hoặc có chi phí phát sinh trong quá trình thanh lý gần bằng thậm chí lớn hơn khoản tiền nhận được. Nói chung, các món nợ thuộc loại rủi ro này rất phức tạp, khó thu hồi và là gánh nặng thực sự đối với các nhà ngân hàng.2 Rủi ro lãi suất Đây là rủi ro mang tính đặc trưng của bất kỳ một trung gian tài chính nào khi có sự chênh lệch về thời hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn. Sự không cân xứng về 5 thời hạn giữa Tài sản có và Tài sản nợ xảy ra thường xuyên trong quá trình hoạt động của các trung gian tài chính nói chung và các NHTM nói riêng, cùng với sự biến động thường xuyên của mức lãi suất thị trường làm cho các tổ chức này rơi vào tình trạng rủi ro lãi suất. Rủi ro lãi suất được thể hiện ở hai dạng sau: - Rủi ro lãi suất do tái tài trợ Tài sản nợ: Hành vi tái tài trợ Tài sản nợ xảy ra khi nguồn vốn huy động có thời hạn ngắn hơn yêu cầu sử dụng vốn.
Trong trường hợp thời hạn của nguồn vốn huy động ngắn hơn thời hạn sử dụng vốn và lãi suất thị trường có xu hướng tăng lên cao hơn mức lãi suất đang đầu tư thì rủi ro lãi suất thực sự nảy sinh. - Rủi ro lãi suất do tái đầu tư Tài sản có: Ngược lại với trường hợp trên, rủi ro lãi suất xảy ra khi thời hạn nguồn vốn lớn hơn thời hạn sử dụng vốn và nguồn vốn được đầu tư lại với lãi suất thấp hơn lãi suất huy động vốn do sự thay đổi của mức lãi suất thị trường. Mức độ rủi ro lãi suất tiềm năng được đo lường bằng sự thay đổi giá trị tài sản ròng dự tính căn cứ vào chiều hướng biến động lãi suất và mức độ chênh lệch thời hạn của Tài sản nợ và Tài sản có. Có hai nguyên nhân chính gây nên rủi ro lãi suất bao gồm: - Nguyên nhân khách quan: Sự biến động của lãi suất thị trường.
- Nguyên nhân chủ quan: Sự không cân xứng về kỳ hạn giữa Tài sản nợ và Tài sản có.3 Rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không có được đủ vốn khả dụng (cung thanh khoản) với chi phí hợp lý và đúng thời điểm mà ngân hàng cần để đáp ứng cầu thanh khoản. Có 3 nguyên nhân chính khiến ngân hàng đối mặt với rủi ro thanh khoản: Một là, do sự mất cân xứng về thời hạn đến hạn giữa Tài sản có và Tài sản nợ. Các ngân hàng huy động vốn với thời hạn ngắn nhưng lại cho vay với thời hạn dài, dẫn đến sự khác biệt về thời điểm xuất hiện cũng như quy mô các luồng tiền ra vào ngân hàng và như vậy sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng. 6 Hai là, do sự nhạy cảm của tài sản tài chính với những thay đổi lãi suất.
Khi lãi suất tăng, nhiều người gửi tiền sẽ rút tiền ra tìm kiếm cơ hội đầu tư với mức lãi suất cao hơn; những người vay tiền sẽ hạn chế vay, hoặc rút hết số dư hạn mức tín dụng với mức lãi suất thấp đã thỏa thuận. Như vậy, thay đổi lãi suất ảnh hưởng đồng thời đến luồng tiền gửi cũng như luồng tiền vay, và cuối cùng là thanh khoản của ngân hàng. Ngoài ra, lãi suất thanh đổi sẽ ảnh hưởng đến thị giá của tài sản mà ngân hàng đem bán để tăng thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay trên thị trường tiền tệ của ngân hàng. Ba là, ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản một cách hoàn hảo.
Những trục trặc về thanh khoản sẽ làm xói mòn niềm tin của dân chúng vào ngân hàng. Như vậy, một trong những công việc quan trọng đối với nhà quản lý ngân hàng là luôn liên hệ chặt chẽ với những khách hàng có số dư tiền gửi lớn và những khách hàng còn hạn mức tín dụng lớn chưa sử dụng để biết kế hoạch rút tiền của họ và có phương án thanh khoản thích hợp. Các ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản hàng ngày trong hoạt động kinh doanh của mình. Do vậy, quản trị rủi ro thanh khoản là vấn đề cần thiết, yêu cầu phải được thực hiện một cách thường xuyên và liên tục.4 Rủi ro tỷ giá Rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động tỷ giá làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng trong tương lai.
Rủi ro tỷ giá chịu ảnh hưởng bởi trạng thái ngoại tệ ròng. Trạng thái ngoại tệ ròng của ngoại tệ F tại thời điểm t được xác định như sau: NEPF(t) = TSCF(t) – TSNF(t) (bao gồm cả nội và ngoại bảng). Trong đó: TSCF(t): Tài sản có của ngoại tệ F tại thời điểm t NEPF(t) TSNF(t): Tài sản nợ của ngoại tệ F tại thời điểm t NEPF(t) Khi trạng thái ngoại tệ ròng khác 0 thì NHTM phải đối mặt với rủi ro tỷ giá. - Nếu NEPF(t)<0 thì ngoại tệ F ở trạng thái trường ròng.
Với tỷ giá được yết sao cho ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền định giá, thì khi tỷ giá tăng sẽ tạo ra lãi ngoại hối và khi tỷ giá giảm sẽ phát sinh lỗ ngoại hối đối với NHTM. 7 - Nếu NEPF(t)<0 thì ngoại tệ F ở trạng thái đoản ròng. Đối với trạng thái ngoại tệ đoản ròng, thì khi tỷ giá tăng sẽ tạo ra lỗ ngoại hối và khi tỷ giá giảm sẽ phát sinh lãi ngoại hối đối với NHTM. - Nếu NEPF(t)=0 thì ngoại tệ F ở trạng thái cân bằng.
Đối với trạng thái ngoại tệ cân bằng thì những thay đổi của tỷ giá đều không ảnh hưởng đến lãi hay lỗ ngoại hối đối với NHTM. Rủi ro tỷ giá luôn tồn tại và nó là một nhân tố ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của các NHTM. Khi cơ chế tỷ giá linh hoạt thì rủi ro tỷ giá sẽ xảy ra thường xuyên hơn, mức độ ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh sẽ lớn hơn. Nhằm đảm bảo hiệu quả kinh doanh đòi hỏi các ngân hàng phải nâng cao khả năng phòng ngừa biến động tỷ giá.
Một số giải pháp hạn chế rủi ro tỷ giá thường gặp là: Một là, sử dụng các phương pháp dự báo tỷ giá.