phần mở đầu và Kết luận, Luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: 5 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng nâng cao chất lƣợng tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TNHH Indovina – Chi nhánh Mỹ Đình Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TNHH Indovina – Chi nhánh Mỹ Đình 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 1.1 Khái niệm CVKHCN là hoạt động tín dụng của Ngân hàng cho chủ thể là các cá nhân, hộ gia đình, trong đó Ngân hàng tài trợ vốn cho cá nhân, phục vụ việc sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định dựa trên nguyên tắc hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi. CVKHCN là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Ngân hàng (ngƣời cho vay) giao cho đối tƣợng khách hàng cá nhân (ngƣời đi vay) một khoản tiền để sử dụng vào mục đ ch và thời gian nhất định theo thỏa thuận, với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân (CVKHCN) Ngoài những đặc điểm vốn có của tín dụng ngân hàng nói chung thì CVKHCN có một số đặc điểm riêng khác của nó: Đối tƣợng vay: là cá nhân và các hộ gia đình. Mục đ ch vay: nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân, hộ gia đình, không xuất phát từ mục đ ch kinh doanh.
Do đó phụ thuộc vào nhu cầu của từng khách hàng và chu kỳ kinh tế của họ. - Cho vay Khách hàng cá nhân có tính đa dạng cao: Nhu cầu đa dạng của khách hàng:CVKHCN phục vụ một lƣợng khách hàng rất đông. Căn cứ vào thu nhập, ngƣời ta phân chia nhóm đối tƣợng khách hàng cá nhân có thu nhập cao, nhóm thu nhập tƣơng đối cao, nhóm khách hàng đại chúng. Căn cứ vào nghề nghiệp có chủ các doanh nghiệp, tiểu thƣơng, cán bộ công nhân viên chức, nhóm tri thức, sinh viên, nhóm công 7 nhân; căn cứ theo tuổi tác khách hàng có thể là ngƣời lớn tuổi hƣu tr hay những ngƣời đang trong độ tuổi lao động, thanh niên hoặc vị thành niên có ngƣời giám hộ.
Khách hàng cá nhân bao gồm nhiều tầng lớp có đặc điểm khác nhau về: thu nhập, chi tiêu tài ch nh, độ tuổi, trình độ dân trí, hiểu biết về ngân hàng, nghề nghiệp tâm lý xã hội, do đó nhu cầu về dịch vụ ngân hàng cũng rất đa dạng khác nhau. Sản phẩm dịch vụ đa dạng:Xuất phát từ nhu cầu của khách hàng, các ngân hàng đã phát triển và thay đổi không ngừng để đƣa ra nhiều sản phẩm dịch vụ khác nhau từ các dịch vụ truyền thống đến các sản phẩm mới hiện đại nhằm thỏa mãn yêu cầu riêng biệt của các nhóm khách hàng. Hàng loạt các sản phẩm dịch vụ thuộc các nhóm dịch vụ nhận tiền gửi cho vay, thanh toán, ngân hàng điện tử, ủy thác đầu tƣ, bảo lãnh bảo quản vật có giá, mua bán ngoại tệ đƣợc phát triển không ngừng. Tại các nƣớc phát triển, số lƣợng sản phẩm dịch vụ ngân hàng dành cho khách hàng cá nhân lên tới hàng nghìn nhằm phục vụ nhu cầu đa dạng của khách hàng.
- Kênh phân phối sản phẩm đa dạng: Hoạt động CVKHCN của ngân hàng phụ thuộc nhiều vào mạng lƣới đa kênh phân phối của ngân hàng. Với xu thế phát triển mạnh của công nghệ thông tin, ngày nay khách hàng có thể tiếp cận sản phẩm dịch vụ của ngân hàng qua rất nhiều kênh nhƣ chi nhánh, phòng giao dịch, ATM, Internet, Phone Banking, Kios, POS. Việc đa dạng kênh phân phối trong dịch vụ ngân hàng bán lẻ ngày càng đem lại thuận lợi cho khách hàng, đồng thời cũng tiết kiệm đƣợc chi phí cho ngân hàng và toàn xã hội. - Quy mô của mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn: Khi khách hàng có nhu cầu mua sắm, đối với những hàng hoá thông thƣờng thì giá cả của nó không quá cao, còn đối với những loại hàng hoá có 8 giá trị lớn nhƣ ôtô, nhà cửa thì khách hàng cũng đã t ch luỹ từ trƣớc và ngân hàng chỉ cho vay bổ sung phần thiếu hụt vì vậy so với các món vay kinh doanh thì những món vay tiêu dùng thƣờng có quy mô nhỏ hơn rất nhiều.
Tuỳ vào sự phát triển của nền kinh tế xã hội dẫn đến số lƣợng những khoản vay tiêu dùng là lớn hay nhỏ. Khi nền kinh tế phát triển thu nhập của ngƣời dân có xu hƣớng gia tăng, nhu cầu tiêu dùng của họ cũng tăng theo và họ đã tìm đến ngân hàng để thoả mãn ngay các nhu cầu hiện tại và ngƣợc lại khi nền kinh tế suy yếu, ngƣời dân có xu hƣớng tiết kiệm hơn tiêu dùng nên họ sẽ hạn chế tìm kiếm các khoản vay từ ngân hàng. - Yêu cầu sự ổn định về chất lượng: Việc đảm bảo ổn định về chất lƣợng là yếu tố quyết định thiết lập lòng tin của khách hàng, đặc biệt đó là vấn đề nhạy cảm của hoạt động ngân hàng trong kinh tế thị trƣờng nhằm duy trì khách hàng đã có và phát triển thị trƣờng tiềm năng. Các yêu cầu thỏa thuận của khách hàng có thể xảy ra đối với từng dịch vụ, từng giao dịch, từng thời điểm chính xác, an toàn là những yêu cầu phải tuân thủ thƣờng xuyên trong mọi điều kiện.
Sự ổn định về chất lƣợng còn thể hiện trong việc triển khai áp dụng các văn bản quy định thực hiện nhất quán trong một ngân hàng và hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng có tiêu ch đánh giá chất lƣợng dịch vụ tiêu chuẩn hóa các yêu cầu từ mẫu giấy tờ, thời gian xử lý giao dịch cho đến ch nh sách giá đƣợc tiêu chuẩn hóa và áp dụng thống nhất trong một ngân hàng. Ngân hàng phải có chiến lƣợc và giải pháp ứng phó kịp thời, phù hợp, hiệu quả, phải đào tạo nguồn nhân lực am hiểu về sản phẩm dịch vụ và tính tƣơng tác của sản phẩm dịch vụ này trên hệ thống để kịp thời giải quyết các thắc mắc của khách hàng, vấn đề vi phạm chất lƣợng dịch vụ có thể xảy ra do lỗi kỹ thuật, đối tác hoặc cán bộ ngân hàng, nhƣng các ngân hàng phải có giải pháp hạn chế tối đa và xử lý kịp thời, đảm bảo quyền lợi cho khách hàng. 9 - Các khoản cho vay Khách hàng cá nhân có chi phí cao: Nếu xét về số lƣợng thì CVKHCN gồm rất nhiều những món vay nhỏ mặc dù nếu tính tổng dƣ nợ thì chỉ bằng một vài khoản vay lớn tuy nhiên ngân hàng vẫn phải thực hiện đầy đủ đúng quy trình cho từng món vay từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, tìm hiểu thông tin về khách hàng.
mà không đƣợc phép bỏ sót một khâu nào, những điều này làm mất rất nhiều thời gian và việc thực hiện một khoản vay rất tốn kém, chiếm một khoản mục chi phí lớn của ngân hàng và lãi suất CVKHCN thƣờng cao hơn các loại tín dụng trong lĩnh vực thƣơng mại và công nghiệp. - Các khoản CVKHCN thường có độ rủi ro cao Về cơ bản thì hoạt động tín dụng là hoạt động rủi ro nhất trong hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, loại hình CVKHCN còn rủi ro hơn so với tín dụng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Rủi ro khách quan: suy thoái kinh tế, mất mùa, thất nghiệp, bệnh tật.gây ra những biến động lớn trong thu nhập của khách hàng.
Ngoài ra, CVKHCN có tính nhạy cảm theo chu kỳ. Nó tăng lên trong thời kỳ nền kinh tế phát triển và giảm đi khi nền kinh tế suy thoái, lạm phát giá cả tăng cao, tình trạng thất nghiệp tăng khiến ngƣời dân hạn chế vay mƣợn ngân hàng. Rủi ro chủ quan: tình trạng công việc nhƣ mức thu nhập, trình độ họcvấn, sức khỏe ảnh hƣởng đến tình hình tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng, chất lƣợng các thông tin tài chính của khách hàng không cao, nguồn trả nợ của ngƣời đi vay có thể biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm của họ. Ngoài ra, rủi ro về mặt đạo đức của ngƣời vay khi không có thiện chí trong việc trả nợ, đặc biệt là các khoản CVKHCN tín chấp không có tài sản đảm bảo.
- Hoạt động CVKHCN có tính thời điểm cao 10 Hoạt động tín dụng nói chung không thể tạo ra hàng loạt các sản phẩm lƣu kho nhƣ các ngành kinh doanh khác. Với đặc trƣng phục vụ đối tƣợng chủ yếu là các cá nhân và hộ gia đình nên hoạt động CVKHCN mang tính thời điểm rất cao. Tính thời điểm thể hiện ở việc ngân hàng chọn thời điểm nào thì đƣa ra sản phẩm mới, quyết định giảm ph , tăng lãi suất hay có chƣơng trình khuyến mại, dự thƣởng phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Tính thời điểm còn thể hiện ở tính cập nhật thông tin về sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng, đặc biệt các vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của khách hàng, cập nhật thông tin về khách hàng cá nhân khi có sự thay đổi.
Trong việc cung cấp dịch vụ thanh toán, yêu cầu phổ biến nhất của khách hàng là Ủy nhiệm chi, chuyển tiền, thanh toán qua thẻ phải đƣợc xử lý hạch toán và hoàn tất trong một thời gian nhất định hoặc ngay khi khách hàng thực hiện giao dịch. Ngân hàng cũng cần nhanh nhạy trong việc dự đoán và xác định những thay đổi của thị trƣờng để có kế hoạch đƣa sản phẩm dịch vụ phù hợp ra thị trƣờng nhằm thu hút đƣợc nhiều khách hàng và hiệu quả nhất. Phân loại cho vay Khách hàng cá nhân CVKHCN đƣợc các ngân hàng nghiên cứu đƣa ra nhiều hình thức cho vay khác nhau để một mặt thu hút khách hàng tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng lên, hai là đem lại hiệu quả cho vay cao nhất. Cho nên có rất nhiều tiêu thức phân loại CVKHCN: 1.
Căn cứ vào mục đích vay Cho vay tiêu dùng, trong đó bao gồm các hình thức: Cho vay mua nhà ở. Cho vay mua ô tô. Cho vay tiêu dùng khác. Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh, đầu tƣ, bao gồm: Cho vay bổ sung vốn lƣu động phục vụ sản xuất kinh doanh.
11 Cho vay đầu tƣ tài sản cố định phục vụ sản xuất kinh doanh. Căn cứ vào phương thức hoàn trả khoản vay Phƣơng thức trả nợ hợp lý sẽ đem lại sự hài lòng cho ngƣời đi vay đồng thời đem lại hiệu quả cho khoản tín dụng đƣợc cấp.