CHƯƠNG I: TỔNG QUAN I. Giới thiệu về chất độn Chất độn là thành phần được thêm vào vật liệu nhằm mục đích tiết kiệm vật liệu. Đồng thời để tăng thêm một số đặc tính cho vật liệu. Trong bất cứ vật liệu nào thì chất độn đều đóng vai trò là chất chịu ứng suất tập trung vì thường độn có tính chất cơ lý cao hơn khi không độn.
Người ta đánh giá độn dựa trên các đặc điểm sau: - Tính gia cường cơ học; - Khả năng chống lại hoá chất, môi trường, nhiệt độ; - Phân tán tốt vào vật liệu; - Truyền nhiệt, giải nhiệt tốt; - Thuận lợi tốt cho gia công; - Giảm giá thành sản phẩm; Tùy thuộc vào từng yêu cầu cho từng loại sản phẩm mà người ta có thể chọn loại vật liệu độn thích hợp. Có hai dạng độn: I. Chất độn dạng sợi: Đặc điểm của chất độn dạng sợi là có tính năng cơ lý hoá cao hơn dạng hạt, tuy nhiên dạng sợi có giá thành cao hơn, thường dùng để chế tạo các loại vật liệu cao cấp như: sợi thuỷ tinh, sợi cácbon, sợi Bo, sợi cacbua silic… I. Chất độn dạng hạt: Các chất độn dạng hạt thường được sử dụng là: silica, CaCO3, độn khoáng, cao lanh, đất sét, bột talc, hay graphite, carbon… khả năng gia cường cơ tính của chất độn dạng hạt được sử dụng với mục đích sau: - Giảm giá thành; - Tăng thể tích cần thiết đối với độn trơ, tăng độ bền cơ lý, hoá, nhiệt, điện, khả năng chậm cháy đối với độn tăng cường; Phạm Quang Việt - CN Hoá học khoá 2006 -2008 Trang 4/74 Luận văn tốt nghiệp cao học - Dễ đúc khuôn, giảm sự tạo bọt khí trong nhựa có độ nhớt cao; - Cải thiện tính chất bề mặt vật liệu, chống co rút khi đóng rắn, che khuất sợi trong cấu tạo tăng cường sợi, giảm toả nhiệt khi đóng rắn; Cốt sợi cũng có thể là sợi tự nhiên (sợi đay, sợi gai, sợi lanh, xơ dừa, xơ tre, bông…), có thể là sợi nhân tạo (sợi thuỷ tinh, sợi vải, sợi poliamit…).
Tuỳ theo yêu cầu sử dụng mà người ta chế tạo sợi thành nhiều dạng khác nhau: sợi ngắn, sợi dài, sợi rối, tấm sợi… Việc trộn thêm các loại cốt sợi này vào hỗn hợp có tác dụng làm tăng độ bền cơ học cũng như độ bền hoá học của vật liệu như: khả năng chịu được va đập; độ giãn nở cao; khả năng cách âm tốt; tính chịu ma sát- mài mòn; độ nén, độ uốn dẻo và độ kéo đứt cao; khả năng chịu được trong môi trường ăn mòn như: muối, kiềm, axít. Ngày nay công nghệ nano đang được ứng dụng vào sản xuất chất độn. Các loại chất độn có kích cỡ nano cũng rất phong phú và là đề tài được nghiên cứu nhiều trong những năm gần đây. Có thể kể đến một số loại chất độn tiêu biểu như: ống nano cacbon (cacbon tube), nano khoang sét (nano clay), nano cacbon black, nano CaCO3 có biến tính bề mặt và không biến tính bề mặt.
Giới thiệu một số vật liệu sử dụng làm chất độn Trong công nghiệp, người ta thường đưa các chất độn vào để nâng cao tính chất cơ lý và hạ giá thành sản phẩm. Mỗi loại chất độn với những hàm lượng thích hợp thể nâng cao một số tính chất nào đó của vật liệu. Vì vậy người ta chọn chất độn với hàm lượng thích hợp tùy theo yêu cầu sản phẩm. Rõ ràng cùng với các đặc tính cơ lý thì càng đưa nhiều chất độn với giá rẻ vào thì càng giảm giá thành vật liệu, các chất độn thường được sử dụng được giới thiệu dưới đây: Than hoạt tính: Phạm Quang Việt - CN Hoá học khoá 2006 -2008 Trang 5/74 Luận văn tốt nghiệp cao học Than hoạt tính kỹ thuật là sản phẩm cháy không hoàn toàn của các hợp chất hydrocacbon, và được phân thành ba nhóm chính: Than lò, than nhiệt phân, than máng.
Than hoạt tính là chất gia cường chủ yếu trong công nghiệp, sự có mặt của than hoạt tính trong hợp phần với hàm lượng cần thiết làm tăng tính chất cơ lý của vật liệu: Độ bền kéo đứt, xé rách, khả năng chống mài mòn, độ cứng. Than hoạt tính được sản xuất rất đa dạng, do đó tùy thuộc vào đặc tính của mỗi loại than mà sử dụng phù hợp cho nhu cầu của công nghệ với hàm lượng thích hợp. Khả năng tăng cường tính chất cho vật liệu được quyết định bởi cấu trúc hoá học, mức độ phân tán và khối lượng riêng của than. Bột talc: Đây là một dạng bột có mầu trắng mịn, trích lấy từ quặng mỏ.
Thông thường được dùng làm chất cách ly kháng dính cho hỗn hợp bởi tính trơn của nó. Bột talc thích hợp làm phụ gia cho sản phẩm chịu axit, sản phẩm có độ cách điện tốt và có thể định hình qua đùn ép (do tính trơn), được dùng cho sản xuất mose latex. Cao lanh: Cao lanh thiên nhiên - nhôm silicat - có công thức chung là: Al2.2H2O có chứa rất nhiều tạp chất mà chúng ta loại bỏ khỏi cao lanh trong quá trình làm giầu.Cao lanh đã tinh chế chứa khoảng 32-33%SiO 2; 55- 56%Al2O3 và 11-12% H2 O. Tạp chất ở dạng Fe2O3 chỉ chiếm hàm lượng khá nhỏ xấp xỉ 1%.
Với sự có mặt của cao lanh trong hợp phần, một số tính chất như ứng suất kéo đứt, độ cứng vật liệuvà khả năng chịu mài mòn của vật liệu đều tốt hơn. Cao lanh còn làm tăng chỉ số cách điện, mức độ chịu dầu, chịu tác dụng các dung môi hữu cơ, tăng độ bền chịu axit của vật liệu. Tuy nhiên vì cao lanh có cấu trúc bất đẳng hướng nên độ bền xé rách của hợp phần có chứa cao lanh bị Phạm Quang Việt - CN Hoá học khoá 2006 -2008 Trang 6/74 Luận văn tốt nghiệp cao học suy giảm. Ngoài chức năng làm chất độn cho vật liệu, cao lanh còn có thể làm chất chống dính.
Silic đioxit (SiO2):[12, 21, 26] Trong các chất độn vô cơ được sử dụng trong công nghiệp, silic đioxit là một trong những chất độn tăng cường có hiệu quả cao nhất. Cũng như các chất độn khác, mức độ phân tán là đặc trưng quan trọng nhất mà bằng đặc trưng này có thể đánh giá tác dụng tăng cường của silic đioxit. Silic đioxit thường được đưa vào trong vật liệu ở dạng bột mịn, được điều chế bằng phương pháp ướt hoặc sương mù. Phương pháp ướt tạo ra SiO 2 có hàm lượng không cao (khoảng 70-90%), kích thước hạt thu được trong khoảng 20- 90µm.
Phương pháp sương mù tổng hợp rái SiO2 với hàm lượng trên 99% và kích thước hạt từ 5-40µm. Một số tác giả đã nghiên cứu quá trình độn SiO 2 trong vật liệu polyme cho thấy tính chất cơ lý và khả năng cách điện của vật liệu được cải thiện đáng kể. Silic đioxit còn được sử dụng như một chất tăng cường trắng rất tốtcho vật liệu polyme nói chung. Chất gia cường CaCO 3 :[40, 42] Chất độn đi từ đá phấn, đá vôi thường được nghiền nhỏ và được xử lý đến cỡ hạt thích hợp để sử dụng làm chất độn cho vật liệu.
Bột CaCO3 là tập hợp các hạt có kích thước 1-10µm, với hình dạng đa dạng, người ta thường phân biệt CaCO3 làm hai loại: - CaCO3 thiên nhiên được nghiền trực tiếp từ đá vôi; - CaCO3 kết tủa. Các chất độn CaCO 3 được sử dụng có nguồn gốc từ thiên nhiên, chất gia cường này làm tăng tính chịu môi trường của vật liệu đặc biệt là giảm giá thành, do đó CaCO3 được sử dụng rất rộng rãi trong công nghiệp cao su, nhựa, giấy, mỹ phẩm. Sử dụng CaCO3 ở dạng siêu mịn xử lý và chưa xử lý bề mặt thì nó Phạm Quang Việt - CN Hoá học khoá 2006 -2008 Trang 7/74 Luận văn tốt nghiệp cao học có tác dụng tăng cường tính chất cơ lý của vật liệu như: lực kéo đứt, lực xé rách, độ chịu ma sát, độ chịu va đập tốt, ít biến đổi độ cứng, độ dãn dài, độ đàn hồi và lực kéo giãn của vật liệu như trường hợp sử dụng bột cao lanh, than hoạt tính. Một số chất độn khác: Ngoài các chất độn đã nêu còn một số chất độn khác cũng được sử dụng như: Bột đất sét, calcium silicat (CaSiO 3), silicat nhôm.
Nhược điểm của những chất độn này là có kích thước lớn và cần sử dụng với một hàm lượng lớn (khoảng 15-20%), điều này sẽ làm thay đổi tỉ trọng, cấu trúc, độ nhớt của vật liệu, dẫn đến tăng giá thành sản phẩm. Xuất phát từ những nhược điểm của các loại chất độn trên các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu ứng dụng công nghệ nano vào trong sản xuất chất độn. Có thể kể đến một số loại chất độn tiêu biểu như: ống nano cacbon (carbon nanotube), nano khoáng sét (nanoclay), nano carbon black, nano CaCO3 có biến tính bề mặt và không biến tính bề mặt. Ống nano carbon là một dạng thù hình carbon đặc biệt.
Ngay từ khi được chế tạo lần đầu tiên bởi Iijima năm 1991, sợi carbon kích thước nano (carbon nanotube) thu hút được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu, ứng dụng của các nhà khoa học trên thế giới và được xem như loại vật liệu gia cường đầy hứa hẹn cho ngành vật liệu bởi chúng có những ưu thế về tính chất như độ bền cơ lý, độ bền nhiệt, độ bền quang tốt và mối quan hệ giữa độ bền - tỷ trọng so với vật liệu khi chưa độn. Ống carbon nano có nhiều ứng dụng, do nó có những tính chất ưu việt như: tính chất cơ, điện cùng nhiều tính chất hoá lý khác rất đặc biệt nên có nhiều ứng dụng mới và hứa hẹn nhiều triển vọng như: Dùng ống carbon nano làm nguồn phát điện tử. Trước đây để có nguồn phát ra điện tử như ở đèn hình tivi, ống phát ra tia X phải dùng sợi đốt là vonfram nung nóng để phát ra nhiệt điện tử. Nhưng đối với ống nano carbon không cần nung nóng chỉ cần tác dụng điện thế cỡ hàng chục vôn là điện tử đã phát ra theo hiệu ứng trường ở mũi nhọn.
Dùng làm mũi dò kiểu cái kim trong kính hiển vi tuynen hay hiển vi điện tử. Phạm Quang Việt - CN Hoá học khoá 2006 -2008 Trang 8/74 Luận văn tốt nghiệp cao học Nhờ những cái kim cứng, nhọn có thể thăm dò, nghiên cứu sinh vật rất tốt, thậm chí còn có thể chọc thủng từng tế bào để đưa các nguyên tử, phân tử vào bên trong. Ngoài ra, ống carbon nano có rất nhiều ứng dụng khác chẳng hạn dùng trong bộ cảm ứng (sensor) để phát hiện ánh sáng, nhiệt,sóng điện từ hoặc những hóa chất độc hại với độ nhạy cao.