Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu ngành chăn nuôi tại Việt Nam, chăn nuôi lợn chiếm vị trí trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân và sinh kế nông hộ. Những năm gần đây, xu hướng phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình gia trại và trang trại công nghiệp gia tăng nhanh chóng, kéo theo nhu cầu cấp thiết về nguồn con giống chất lượng cao từ đàn lợn nái sinh sản. Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất làm suy giảm hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi nái tập trung là các bệnh lý sản khoa, điển hình là bệnh viêm tử cung (metritis).

Bệnh viêm tử cung không chỉ trực tiếp phá hủy niêm mạc, làm rối loạn chức năng sinh sản của lợn mẹ mà còn gián tiếp gây giảm hoặc mất sữa, dẫn đến hội chứng tiêu chảy và suy dinh dưỡng ở đàn lợn con theo mẹ, làm hạ thấp tỷ lệ sống sau cai sữa. Trường hợp bệnh không được chẩn đoán và điều trị kịp thời sẽ tiến triển thành các bệnh tích thứ phát như viêm vú, chậm động dục, mất khả năng sinh sản và là một mắt xích chính gây nên hội chứng viêm tử cung - viêm vú - mất sữa (MMA: Metritis - Mastitis - Agalactia). Xuất phát từ thực trạng sản xuất tại địa phương, đề tài "Nghiên cứu tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại trại lợn Ngô Hồng Gấm - huyện Lương Sơn - Hòa Bình và biện pháp phòng trị" đã được thực hiện.

Mục đích nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  • Chẩn đoán bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản.
  • Xác định tỷ lệ nhiễm bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái tại cơ sở.
  • Đề ra biện pháp phòng trị bệnh thích hợp nhằm nâng cao năng suất sinh sản.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể được xác định:

  1. Xác định tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái tại trại lợn Ngô Hồng Gấm, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình theo lứa đẻ và theo giai đoạn sinh sản.
  2. Tiến hành điều trị bệnh viêm tử cung cho đàn lợn mắc bệnh và đánh giá hiệu quả điều trị của phác đồ thử nghiệm.
  3. Khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng và trị bệnh viêm tử cung đạt hiệu quả kinh tế - kỹ thuật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái ngoại đang trong giai đoạn sinh sản (chờ phối và sau đẻ) cùng đàn lợn con theo mẹ.
  • Địa điểm nghiên cứu: Trại chăn nuôi lợn Ngô Hồng Gấm, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
  • Thời gian tiến hành: Từ ngày 25/05/2015 đến ngày 25/11/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở khoa học

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên đặc điểm giải phẫu, sinh lý sinh dục lợn nái, cơ chế bệnh sinh của viêm tử cung và nguyên lý dược lý học thú y:

  • Cấu tạo giải phẫu và sinh lý sinh dục: Cơ quan sinh dục lợn cái gồm buồng trứng (Ovarium), ống dẫn trứng (Oviductus), tử cung (Uterus - gồm 2 sừng tử cung, thân và cổ tử cung), âm đạo (Vagina), tiền đình (Vestibulum vaginae), âm vật (Clitoris) và âm hộ (Vulva). Hệ thống hormone điều hòa hoạt động sinh sản gồm Estrogen, Progesterone, Oxytocin, Relaxin, Inhibin, FSH, LH, PGF2α và Prolactin. Chu kỳ động dục của lợn nái kéo dài từ 18 - 22 ngày (trung bình 21 ngày), chia làm 4 giai đoạn: trước động dục, động dục, sau động dục và nghỉ ngơi. Sinh lý đẻ gồm 3 thời kỳ: mở cổ tử cung, sổ thai và sổ nhau.
  • Cơ chế bệnh sinh viêm tử cung: Vi sinh vật xâm nhập vào đường sinh dục khi cổ tử cung mở (trong kỳ động dục hoặc khi sinh đẻ), qua thao tác thụ tinh nhân tạo không vô trùng, lợn đực phối giống trực tiếp mang mầm bệnh, hoặc can thiệp đẻ khó gây tổn thương cơ giới. Khi nội mạc tử cung viêm cấp tính, tế bào niêm mạc tăng tiết Prostaglandin F2α (PGF2α) gây tiêu biến thể vàng sớm, giảm Progesterone dẫn đến sảy thai hoặc thai chết lưu. Vi khuẩn đường sinh dục (đặc biệt là Escherichia coli) tiết nội độc tố ức chế thùy trước tuyến yên tiết Prolactin làm lợn mẹ mất sữa, khiến lợn con bị tiêu chảy. Nếu viêm chuyển sang thể mãn tính, lượng PGF2α giảm tiết khiến thể vàng tồn tại dai dẳng, Progesterone ức chế LH làm nái không thể động dục lại.
  • Phân loại thể bệnh: Dựa theo mức độ tổn thương tổ chức học, bệnh được phân thành 3 thể:
    1. Viêm nội mạc tử cung (Độ I): Gồm thể cata cấp tính có mủ hoặc thể màng giả, tổn thương khu trú ở lớp niêm mạc.
    2. Viêm cơ tử cung (Độ II): Tổn thương lan sâu xuống tầng cơ trơn, mô hoại tử, tiết dịch màu đỏ nâu có mùi hôi tanh.
    3. Viêm tương mạc tử cung (Độ III): Tổn thương lớp thanh mạc ngoài cùng, có nguy cơ dính mô xung quanh và kế phát viêm phúc mạc, sốt cao, dịch thải thối khắm.
  • Căn nguyên vi sinh vật: Tác nhân gây nhiễm trùng đường sinh dục thường gặp gồm vi khuẩn Gram dương (Staphylococcus aureus, Streptococcus) và vi khuẩn Gram âm (Salmonella, Escherichia coli).
  • Dược lý học thú y: Nghiên cứu tổng hợp cơ chế tác động của các nhóm kháng sinh (β-lactamin, Quinolon/Fluoroquinolon, Aminoglycosid, Macrolid, Tetracyclin, Sulfamid); cơ chế kích thích co bóp cơ trơn tử cung tống dịch rỉ viêm của hormone Oxytocin; tác dụng sát khuẩn tại chỗ của dung dịch NaCl 0,9%.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp điều tra dịch tễ và theo dõi lâm sàng: Điều tra trực tiếp trên tổng đàn 662 lợn nái sinh sản tại trại; quan sát triệu chứng lâm sàng (thân nhiệt, tần số hô hấp, phản ứng đau, dịch viêm âm môn, trạng thái ăn uống) để phân loại mức độ viêm.
  • Phương pháp thử nghiệm điều trị: Lợn nái mắc bệnh được điều trị theo phác đồ kết hợp:
    • Kháng sinh: Tiêm bắp Vetrimoxin LA (Amoxycillin trihydrate) liều 1 ml/10 kg thể trọng.
    • Thuốc co bóp cơ trơn: Tiêm bắp/mép âm môn Oxytocin liều 5 ml/con (10 UI/ml).
    • Thụt rửa đường sinh dục: Dùng dung dịch sinh lý NaCl 0,9% với lượng 3 - 4 lít/con/lần.
    • Thuốc trợ sức, trợ lực: Tiêm bắp phối hợp Vitamin C (5 ml/con), Vitamin B1 (5 ml/con) và Vitamin B12 (5 ml/con).
    • Liệu trình thực hiện 1 lần/ngày, kéo dài liên tục từ 3 - 5 ngày.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được xử lý bằng các thuật toán thống kê sinh vật học trên phần mềm Microsoft Excel 2010 theo phương pháp của Nguyễn Văn Thiện và cộng sự (2002), xác định các tham số: số trung bình ($\bar{X}$), độ lệch tiêu chuẩn ($S_x$), sai số trung bình ($m_x$) và tỷ lệ phần trăm (%).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu kiểm soát dịch bệnh sản khoa trong chăn nuôi nái ngoại chuyên canh; xác định rõ mục đích, mục tiêu, đối tượng, phạm vi không gian - thời gian nghiên cứu tại trại lợn Ngô Hồng Gấm (Lương Sơn, Hòa Bình); nêu bật ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dữ liệu lâm sàng và ý nghĩa thực tiễn trong công tác phòng trị bệnh tại trang trại.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết có hệ thống cơ sở giải phẫu, chức năng sinh lý của bộ máy sinh dục lợn nái; cơ chế điều hòa nội tiết trong chu kỳ tính và quá trình đẻ; nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, bệnh lý học của 3 thể viêm tử cung; đặc tính sinh học của các vi khuẩn gây bệnh (Staphylococcus, Streptococcus, Salmonella, E. coli); phân loại và nguyên tắc sử dụng kháng sinh trong thú y; đồng thời điểm luận các kết quả nghiên cứu trong nước (Lê Xuân Cương, Nguyễn Văn Thanh, Trịnh Đình Thâu...) và quốc tế (Ban A., Popkov, Waksman...) về bệnh sinh sản ở lợn.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết địa điểm, thời gian nghiên cứu (25/5/2015 - 25/11/2015); quy mô đàn lợn khảo sát; nội dung các bước tiến hành; quy trình bố trí thí nghiệm; các công thức tính tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ động dục lại, tỷ lệ đậu thai khi phối lần đầu; hệ thống tiêu chí chẩn đoán phân biệt 3 thể viêm tử cung (Bảng 3.1) và các công thức toán thống kê sinh học áp dụng.

Tiêu chí phân biệt Viêm nội mạc tử cung (Độ I) Viêm cơ tử cung (Độ II) Viêm tương mạc tử cung (Độ III)
Thân nhiệt (Sốt) Sốt nhẹ Sốt nhẹ Sốt cao
Màu sắc dịch viêm Trắng, trắng xám Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt
Mùi dịch rỉ viêm Tanh Tanh thối Thối khắm
Phản ứng đau Đau nhẹ Đau rõ hơn Đau có phản ứng dữ dội
Trạng thái ăn uống Bỏ ăn một phần hoặc hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương này phân tích hai mảng nội dung chính: công tác phục vụ sản xuất tại cơ sở và kết quả nghiên cứu chuyên đề bệnh học.

1. Công tác phục vụ sản xuất

  • Chăm sóc nuôi dưỡng: Thực hiện quy trình dinh dưỡng phân kỳ cho lợn nái chửa (dùng cám 566 từ tuần 1 - 12 với mức 1,5 - 2 kg/ngày; cám 567 từ tuần 13 - 14 mức 3 kg/ngày và tuần 15 trở đi mức 3 kg/ngày; nái chờ đẻ giảm dần cám trước 3 ngày xuống 1 kg/ngày; nái nuôi con ăn tăng dần 2 - 5 kg/ngày). Lợn con được tập ăn sớm từ 4 - 6 ngày tuổi bằng cám 550 và tiến hành cai sữa ở 18 - 22 ngày tuổi.
  • Thực hiện quy trình thú y phòng bệnh: Sát trùng chuồng trại bằng hóa chất Ommicide (tỷ lệ pha 1:3200); thực hiện nghiêm ngặt lịch tiêm phòng vaccine cho nái và lợn con (vaccine Dịch tả lợn CSF, Lở mồm long móng FMD 3 type, Tai xanh PRRS, Giả dại AD, Suyễn lợn Mycoplasma).
  • Điều tra biến động đàn nái của trại: Quy mô tổng đàn nái có xu hướng tăng đều qua 3 năm (2013 - 2015).
STT Loại lợn nái Đơn vị Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
1 Nái hậu bị Con 60 75 179
2 Nái kiểm định Con 150 130 80
3 Nái cơ bản Con 1.049 1.057 1.079
Tổng Tổng đàn nái Con 1.259 1.262 1.338
  • Kết quả điều trị các bệnh lâm sàng và can thiệp sản khoa:
    • Điều trị phân trắng lợn con: 122/122 con khỏi (đạt 100%).
    • Điều trị hội chứng tiêu chảy: 1.442/1.471 con khỏi (đạt 98,03%).
    • Điều trị viêm phổi: 139/150 con khỏi (đạt 92,76%).
    • Can thiệp đẻ khó: 45/45 ca an toàn (đạt 100%).
    • Xử lý đẻ sót con: 35/35 ca thành công (đạt 100%).
    • Xử lý sảy thai, thai chết lưu: 5/5 ca phục hồi (đạt 100%).
    • Xử lý tổn thương cơ giới: 8/8 ca khỏi (đạt 100%).
    • Các công tác khác: Đỡ đẻ an toàn 1.205/1.220 con (98,77%); tiêm Fe + B12 cho 1.800 lợn con (100%); thiến lợn đực 967 con (100%); cho uống phòng cầu trùng 3.680 con (100%); phẫu thuật thoát vị rốn (hecni) 29 con (100%).

2. Kết quả nghiên cứu chuyên đề bệnh viêm tử cung

  • Tỷ lệ mắc bệnh theo lứa đẻ: Theo dõi trên 662 lợn nái, phát hiện 171 con mắc bệnh viêm tử cung, chiếm tỷ lệ trung bình 25,83%. Tỷ lệ mắc giảm dần từ lứa 1 (25,76%) đến lứa 4 (19,43% - thấp nhất), sau đó tăng mạnh ở lứa 5 (32,91%) và đạt đỉnh ở lứa 6 (39,76% - cao nhất).
  • Phân bố theo mức độ tổn thương: Trong 171 nái mắc bệnh, thể Viêm nội mạc tử cung (Độ I) chiếm tỷ lệ cao nhất với 124 con (72,52%); thể Viêm cơ tử cung (Độ II) có 32 con (18,71%); thể Viêm tương mạc tử cung (Độ III) có 15 con (8,77%).
Lứa đẻ Số nái theo dõi (con) Số nái mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc chung (%) Viêm độ I - n (%) Viêm độ II - n (%) Viêm độ III - n (%)
Lứa 1 66 17 25,76 11 (64,71) 4 (23,53) 2 (11,76)
Lứa 2 100 25 25,00 18 (72,00) 6 (24,00) 1 (4,00)
Lứa 3 159 36 22,64 29 (80,55) 5 (13,89) 2 (5,56)
Lứa 4 175 34 19,43 27 (79,41) 4 (11,77) 3 (8,82)
Lứa 5 79 26 32,91 18 (69,23) 5 (19,23) 3 (11,54)
Lứa 6 83 33 39,76 21 (63,64) 8 (24,24) 4 (12,12)
Tính chung 662 171 25,83 124 (72,52) 32 (18,71) 15 (8,77)
  • Tỷ lệ mắc bệnh theo giai đoạn sinh sản: Tỷ lệ mắc bệnh tập trung chủ yếu ở giai đoạn sau đẻ với 47,73% (158/331 con mắc), trong khi giai đoạn chờ phối chỉ ghi nhận 3,93% (13/331 con mắc).
Giai đoạn sinh sản Số con theo dõi (con) Số con mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc bệnh (%)
Giai đoạn chờ phối 331 13 3,93
Giai đoạn sau đẻ 331 158 47,73
Tính chung 662 171 25,83

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng quan về tỷ lệ nhiễm bệnh, quy luật phát sinh bệnh theo lứa tuổi và giai đoạn sinh lý của đàn nái; đề xuất khuyến cáo kỹ thuật về vệ sinh thú y chuồng đẻ, kiểm soát kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và quy trình can thiệp sản khoa tại trang trại.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Dữ liệu dịch tễ học lâm sàng: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trung bình trên đàn nái tại cơ sở là 25,83% (171/662 con). Bệnh xảy ra cao nhất ở nái đẻ lứa 6 (39,76%) và lứa 1 (25,76%), thấp nhất ở lứa 4 (19,43%). Viêm nội mạc tử cung (Độ I) là thể bệnh phổ biến nhất (chiếm 72,52% tổng số nái bệnh). Giai đoạn sau đẻ có nguy cơ mắc bệnh rất cao (47,73%) so với giai đoạn chờ phối (3,93%).
  2. Hiệu quả công tác sản xuất và điều trị: Khẳng định tính hiệu quả của các biện pháp can thiệp sản khoa (can thiệp đẻ khó 45 ca khỏi 100%, đẻ sót 35 ca khỏi 100%) và phác đồ phối hợp kháng sinh Vetrimoxin LA, Oxytocin thụt rửa nước muối sinh lý cùng vitamin trợ lực.
  3. Quy mô phát triển đàn: Phản ánh sự tăng trưởng của trại từ 1.259 nái (năm 2013) lên 1.338 nái (năm 2015).

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất

  • Tăng cường vệ sinh, sát trùng định kỳ chuồng nuôi bằng dung dịch Ommicide (1:3200), đặc biệt tại khu vực chuồng chờ đẻ và chuồng đẻ.
  • Chuẩn hóa quy trình thụ tinh nhân tạo: kiểm tra chất lượng tinh dịch (80 - 100 ml, hoạt lực 1,5 - 2 tỷ tinh trùng tiến thẳng), vô trùng tuyệt đối dụng cụ dẫn tinh và vệ sinh kỹ âm hộ lợn nái trước khi gieo tinh.
  • Giảm khẩu phần ăn trước đẻ 3 ngày để hạn chế phân chèn ép trực tràng; thao tác can thiệp đẻ khó phải đúng kỹ thuật ngoại khoa để tránh xây xát niêm mạc.
  • Theo dõi thân nhiệt và dịch tiết âm môn của nái ngay sau khi sinh để phát hiện sớm các ca viêm nhiễm và điều trị dứt điểm trong 48 - 72 giờ đầu.

Đóng góp của đề tài

  • Cung cấp dẫn liệu khoa học thực tế về tình hình dịch tễ, tỷ lệ mắc và mức độ phân loại bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tập trung tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
  • Xác lập cơ sở thực tiễn chứng minh mối liên hệ giữa lứa đẻ, giai đoạn sinh lý với tỷ lệ mắc bệnh sản khoa ở lợn nái.
  • Hoàn thiện và chuẩn hóa quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh thực tế giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế và nâng cao năng suất sinh sản cho trang trại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi một trang trại chăn nuôi đơn lẻ (trại lợn Ngô Hồng Gấm) trong khoảng thời gian 6 tháng (từ tháng 5/2015 đến tháng 11/2015). Các đánh giá bệnh học chủ yếu dựa trên chẩn đoán triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học thực địa mà chưa tiến hành phân lập, định danh chi tiết các chủng vi khuẩn gây bệnh trong phòng thí nghiệm hoặc thực hiện kháng sinh đồ chuyên sâu cho từng ca bệnh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô khảo sát trên nhiều trang trại có phương thức chăn nuôi khác nhau tại địa phương; kết hợp phương pháp vi sinh vật học để phân lập vi khuẩn, xác định độc lực và lập kháng sinh đồ định kỳ nhằm theo dõi tình trạng kháng thuốc của vi khuẩn gây viêm tử cung.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y, Bác sĩ thú y thực hành, cán bộ kỹ thuật và chủ các trang trại chăn nuôi lợn nái sinh sản.
  • Nội dung giá trị:
    • Hệ thống tiêu chí phân loại lâm sàng 3 mức độ viêm tử cung (Bảng 3.1) giúp người làm kỹ thuật nhanh chóng chẩn đoán phân biệt tại chuồng.
    • Phác đồ điều trị kết hợp giữa kháng sinh toàn thân (Vetrimoxin LA), thuốc kích thích co bóp tống dịch (Oxytocin), dung dịch thụt rửa niêm mạc (NaCl 0,9%) và vitamin trợ sức.
    • Định mức và quy trình cho ăn chi tiết theo tuần chửa (cám 566, 567) cùng kỹ thuật chăm sóc, bấm nanh, cắt đuôi, tiêm sắt và phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến cai sữa.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung chung trên đàn lợn nái tại trại lợn Ngô Hồng Gấm là bao nhiêu?

Theo số liệu theo dõi trên 662 lợn nái sinh sản tại trại, có 171 con mắc bệnh viêm tử cung, tương ứng với tỷ lệ mắc chung là 25,83%.

2. Tỷ lệ mắc viêm tử cung biến động như thế nào theo lứa đẻ của lợn nái?

Tỷ lệ mắc bệnh giảm dần từ lứa 1 (25,76%) đến lứa 4 (19,43% - mức thấp nhất), sau đó tăng trở lại ở lứa 5 (32,91%) và đạt mức cao nhất ở lứa đẻ thứ 6 (39,76%).

3. Thể viêm tử cung nào chiếm tỷ lệ cao nhất trong đàn nái mắc bệnh?

Thể Viêm nội mạc tử cung (Viêm độ I) chiếm tỷ lệ cao nhất với 72,52% (124/171 con), tiếp theo là Viêm cơ tử cung (Độ II) chiếm 18,71% (32/171 con) và Viêm tương mạc tử cung (Độ III) chiếm 8,77% (15/171 con).

4. Giai đoạn sinh sản nào lợn nái có nguy cơ mắc bệnh viêm tử cung cao nhất?

Lợn nái ở giai đoạn sau đẻ có tỷ lệ mắc bệnh rất cao, lên tới 47,73% (158/331 con mắc), trong khi ở giai đoạn chờ phối tỷ lệ này chỉ chiếm 3,93% (13/331 con mắc).

5. Phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung được tác giả áp dụng gồm những loại thuốc nào?

Phác đồ gồm: Tiêm bắp Vetrimoxin LA (Amoxycillin) liều 1 ml/10 kg thể trọng; tiêm Oxytocin 5 ml/con (vào mép âm môn); thụt rửa tử cung bằng nước muối sinh lý NaCl 0,9% (3 - 4 lít/con); kết hợp tiêm bắp thuốc bổ trợ sức Vitamin C (5 ml), Vitamin B1 (5 ml) và Vitamin B12 (5 ml) với liệu trình 1 lần/ngày trong 3 - 5 ngày liên tục.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thương đã phản ánh đầy đủ thực trạng bệnh lý viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại tại trại lợn Ngô Hồng Gấm với tỷ lệ mắc trung bình là 25,83%, tập trung cao nhất ở giai đoạn sau đẻ và các lứa đẻ cao. Nghiên cứu đã làm rõ các yếu tố nguy cơ dịch tễ, xây dựng bảng tiêu chí phân loại lâm sàng 3 mức độ viêm và chứng minh hiệu quả của phác đồ điều trị phối hợp kháng sinh Vetrimoxin LA, Oxytocin cùng dung dịch thụt rửa sinh lý. Các kết quả và quy trình chăm sóc, phòng trị bệnh được đúc kết trong khóa luận mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho công tác quản lý dịch bệnh sinh sản tại các cơ sở chăn nuôi lợn nái tập trung.