Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng luận các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và có địa hình phức tạp tạo nên sự đa dạng về sinh cảnh ở cả vùng đồng bằng, trung du và vùng núi nên phù hợp cho sự phát triển của động vật nói chung, bò sát và ếch nhái nói riêng. Nỗ lực nghiên cứu về bò sát và ếch nhái ở Việt Nam được thể hiện qua các giai đoạn cụ thể như sau: 600 533 500 421 400 368 296 300 267 257 248 246 200 177 162 100 87 82 0 Dao (1977-1982) Nguyen & Ho Nguyen et al. Nguyen et Frost & Uetz Frost & Uetz (1996) (2005) al.(2009) (2017) (2021) Bò sát Ếch nhái Hình 1.
Lược sử kết quả nghiên cứu khu hệ bò sát và ếch nhái ở Việt Nam Công trình được công bố đầu tiên về bò sát và ếch nhái ở Việt Nam phải kế đến cuốn ''Nam dược thần hiệu'' của Tuệ Tĩnh đã liệt kê các vị thuốc được làm từ các loài bò sát và ếch nhái (được dịch sang tiếng Việt và tái bản vào năm 1972). 3 Giai đoạn trước năm 1945, đã có một số nhà khoa học nước ngoài nghiên cứu về bò sát và ếch nhái ở khu vực Đông Dương, trong đó có Việt Nam. Hàng loạt các sách chuyên khảo được ra đời trong thời gian này có thể kể đến như Bourret (1936, 1941, 1942) và Smith (1921, 1935, 1943). Giai đoạn 1954-1975, nghiên cứu về bò sát và lưỡng cư ở miền Bắc do các nhà khoa học trong nước thực hiện như Đào Văn Tiến, Trần Kiên, Lê Vũ Khôi, các công bố về thành phần loài và sinh thái của các bò sát và lưỡng cư (Dao 1957, 1962).
Ở miền Nam đáng chú ý là công trình nghiên cứu về rắn của Camp-den Main (1970). Giai đoạn 1975-1996, với sự kết hợp của các nhà khoa học trong và ngoài nước các nghiên cứu tập trung vào khám phá đa dạng thành phần loài đã tiến hành ở nhiều vùng khác nhau trong cả nước. Nổi bật trong giai đoàn này có thể kể đến các khóa định loài về bò sát và ếch nhái của Đào Văn Tiến (1977, 1978, 1879, 1981, 1982). Nguyễn Văn Sáng & Hồ Thu Cúc (1996), đã ghi nhận ở Việt Nam có 340 loài bò sát và ếch nhái đến năm 1996.
Giai đoạn từ 1997 đến nay, bên cạnh phương pháp định loài hình thái truyền thống, nhờ sự hỗ trợ của phương pháp sinh học phân tử trong phân tích các mối quan hệ di truyền đã góp phần khám phá thêm nhiều loài bò sát và ếch nhái mới cho Việt Nam. Với tổng số 458 loài vào năm 2005 (Nguyễn Văn Sáng và cs 2005) đã tăng lên 545 loài vào năm 2009 (Nguyen et al. Theo thống kê của hệ thống cơ sở dữ liệu bò sát và ếch nhái thế giới, đến năm 2017 ở Việt Nam có 667 loài, trong đó có 246 loài ếch nhái, 186 loài thằn lằn, 195 loài rắn, 34 loài rùa và 2 loài cá sấu. Những kết quả nghiên cứu về khu hệ bò sát và ếch nhái tại khu vực hệ sinh thái núi đá vôi ở Việt Nam gần đây có thể kể đến: Luu et al.
(2013), đã báo cáo tổng cộng 151 loài (101 loài bò sát và 50 loài lưỡng cư) trong đó ghi nhận 13 loài mới cho VQG Phong Nha - Kẻ Bàng và tỉnh Quảng Bình. Ziegler et al. (2014) đã cung cấp một danh lục của 102 loài (52 loài bò sát và 4 50 loài ếch nhái) trong đó ghi nhận lần đầu tiên cho tỉnh Hà Giang 12 loài bò sát và 8 loài ếch nhái. Luan et al.
(2016) đã ghi nhận 31 loài lưỡng cư và bò sát từ kết quả nghiên cứu thực địa ở năm 2015 và 2016 trong đó có 8 loài mới ghi nhận cho huyện Hướng Hóa và 4 loài ghi nhận mới cho tỉnh Quảng Trị. Pham et al. (2017) đã lần đầu báo cáo 21 loài ếch nhái cho hệ sinh thái núi đá vôi của huyện Hà Lang, tỉnh Cao Bằng trong đó ghi nhận mới 3 loài (Odorrana bacboensis, O. graminea, Rhacophorus maximus) cho tỉnh Cao Bằng.
Hoàng Thị Tươi và Lưu Quang Vinh (2017) đã ghi nhận lần đầu tiên 27 loài bò sát và 18 loài ếch nhái tại hệ sinh thái núi đá vôi của Quần thể danh thắng Tràng An, tỉnh Ninh Bình. Số loài mới cho khoa học được công bố hàng năm cũng tăng lên rõ rệt qua các thời kỳ. Nếu trong thời kỳ 1954–1975 chỉ phát hiện được 1 loài bò sát mới cho khoa học, thì từ năm 1976–1996, số loài phát hiện mới cho khoa học đã tăng lên 16 loài (4 loài ếch nhái, 12 loài bò sát), trong giai đoạn từ 1996- 2005 số lượng loài mới phát hiện là 57 loài (28 loài ếch nhái, 29 loài bò sát), trong giai đoạn gần đây từ 2006-2017 số lượng loài mới phát hiện đã tăng nhanh lên đến 158 loài (66 loài ếch nhái và 92 loài bò sát). Trong năm 2020 đã có 12 loài bò sát và 11 loài ếch nhái công bố ở Việt Nam.
Với đội ngũ cán bộ khoa học được đào tạo bài bản và hợp tác quốc tế được tăng cường, các nhà nghiên cứu của Việt Nam và nước ngoài đã công bố hàng trăm loài mới cho khoa học. Lĩnh vực nghiên cứu được mở rộng từ phân loại học, thành phần loài, địa lý sinh vật đến quan hệ di truyền và tiến hóa, sinh thái học và tình trạng bảo tồn của các loài lưỡng cư và bò sát ở Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu về LCBS không chỉ làm nổi bật giá trị đa dạng sinh học của Việt Nam mà còn cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững các loài LCBS. Trong năm 2020 đã có 12 loài Bò sát và 11 loài ếch nhái được công bố với mẫu chuẩn ở Việt Nam bao gồm: Acanthosaura prasina Ananjeva, 5 Ermakov, Nguyen, Nguyen, Murphy, Lukonina & Orlov, 2020, Achalinus tranganensis Luu, Ziegler, Ha, Lo, Hoang, Ngo, Le, Tran & Nguyen, 2020, Achalinus zugorum Miller, Davis, Luong, Do, Pham, Ziegler, Lee, De Queiroz, Reynolds & Nguyen, 2020, Cyrtodactylus culaochamensis Tri, Grismer, Thai & Wood, 2020, Cyrtodactylus phumyensis Ostrowski, Do, Le, Ngo, Pham, Nguyen, Nguyen & Ziegler, 2020, Hemiphyllodactylus bonkowskii Nguyen, Do, Ngo, Pham, Pham, Le & Ziegler, 2020, Hemiphyllodactylus nahangensis Do, Pham, Phan, Le, Ziegler & Nguyen, 2020, Hemiphyllodactylus ngocsonensis Nguyen, Do, Ngo, Pham, Pham, Le & Ziegler,2020, Oligodon rostralis Nguyen, Tran, Nguyen, Neang, Yushenko & Poyarkov, 2020, Scincella baraensis Nguyen, Nguyen, Nguyen & Murphy, 2020, Sinomicrurus peinani Liu, Yan, Hou, Wang, Nguyen, Murphy, Che & Guo, 2020 và Sphenomorphus phuquocensis Grismer, Nazarov, Bobrov & Poyarkov, 2020.
11 loài Ếch nhái bao gồm: Limnonectes phuyenensis Pham CT, DT Do, MD LE, HT Ngo, LT Nguyen, T Ziegler, and TQ Nguyen; Microhyla neglecta Poyarkov, NA, Jr, TV Nguyen, AV Trofimets, and VA Gorin; Microhyla hongiaoensis Hoang VC, MA Luong, QT Nguyen, NL Orlov, Y Chen, B Wang, and J Jiang; Zhangixalus franki Ninh HT, Nguyen TT, Orlov N, Nguyen T, Ziegler T; Zhangixalus jodiae Nguyen TT, HT Ninh, N Orlov, TQ Nguyen, and T Ziegler; Tylototriton sparreboomi Bernardes, Le, Nguyen TQ, Pham CT, Pham AV, Nguyen TT & Ziegler in Bernardes M, Le MD, Nguyen TQ, Pham CT, Pham AV, Nguyen TT, Rödder D, Bonkowski M, Ziegler T; Tylototriton pasmansi Bernardes, Le, Nguyen TQ, Pham CT, Pham AV, Nguyen TT & Ziegler in Bernardes M, Le MD, Nguyen TQ, Pham CT, Pham AV, Nguyen TT, Rödder D, Bonkowski M, Ziegler T; Gracixalus trieng Rowley JJL, DTT Le, HD Hoang, TT Cao, and VQ Dau; Leptobrachium lunatum Stuart BL, Som HE, Neang T, Hoang DH, Duong 6 TTL, Dau VQ, Potter K, Rowley JJL; Kurixalus gracilloides Nguyen TV, TV Duong, KT Luu, and NA Poyarkov; Panophrys caobangensis Nguyen TQ, CT Pham, TT Nguyen, AM Luong, and T Ziegler. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông được đánh giá là một trong những KBTTN có diện tích lớn nhất của tỉnh Hòa Bình, nơi còn sót lại một diện tích lớn rừng nguyên sinh trên núi đá ít chịu tác động của con người. Khu vực này được xem như là đại diện của kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới của khu vực Tây Nam tỉnh Hòa Bình. Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông được các nhà khoa học trong nước và quốc tế đánh giá là một trong những khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao của vùng Tây Bắc cũng như của Việt Nam, là mắt xích quan trong trong tổ hợp bảo tồn thiên nhiên trải dài từ VQG Cúc Phương đến tận biên giới Việt – Lào, với thành phần động, thực vật phong phú, đa dạng.
Về động vật, tổng số 93 loài thú, 253 loài chim, 48 loài bò sát, 34 loài lưỡng cư, 27 loài cá đã được ghi nhận trong KBT. Trong đó, có gần 60 loài động vật được phân hạng trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục đỏ IUCN (2014). Về thực vật, tổng số có 667 loài thuộc 372 chi, 140 họ của 5 ngành đã được ghi nhận tại KBT, trong đó có 28 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), 7 loài trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ và 9 loài được ghi trong Danh lục Đỏ của IUCN (2012) ở các mức độ nguy cấp khác nhau.Với tính đa dạng sinh học cao, Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông đóng vai trò vô cùng quan trọng trong chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học của quốc gia, khu vực và quốc tế (Quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng bền vững khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông Tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016 – 2020, tầm nhìn đến năm 2030) Tuy nhiên các nghiên cứu trước đây chưa thực sự chuyên sâu về phân loại, phân bố về khu hệ bò sát, ếch nhái ở khu vực, nhiều loài chưa có dẫn liệu 7 chắc chắn. Từ năm 2015 đến nay chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu nào về khu hệ bò sát, ếch nhái tại đây.
Vì vậy, những nghiên cứu chuyên sâu để bổ sung thành phân loài, đặc điểm phân bố cập nhật hệ thống phân loại và đánh giá tình trạng bảo tồn khu hệ bò sát, ếch nhái trong khu vực là hết sức cần thiết. Từ đó đề xuất các phương pháp bảo tồn khu hệ bò sát, ếch nhái nói riêng và khu hệ động vật tại KBT Ngọc Sơn – Ngổ Luông nói chung. 8 Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI 2. Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên 2.
Vị trí địa lý, diện tích và ranh giới Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông cách trung tâm thị trấn Vụ Bản huyện Lạc Sơn 12 Km về phía Tây Nam, cách thành phố Hoà Bình 70km.