Luận án tiến sĩ kỹ thuật cơ khí động lực nghiên cứu ảnh hưởng của một số thông số hình học của bánh công tác đến đặc tính làm việc của máy thuận nghịch bơm tuabin ns thấp

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng hình học bánh công tác đến hiệu suất máy bơm tuabin ns thấp, cung cấp kiến thức chuyên sâu cho ngành cơ khí.

Chuyên ngành

Kỹ thuật cơ khí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2019

127
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÁY THỦY LỰC THUẬN NGHỊCH BƠM– TUABIN

1.1. Giới thiệu chung về bơm–tuabin

1.2. Lịch sử phát triển của bơm–tuabin trong thủy điện tích năng

1.3. Các loại bơm phù hợp cho vận hành tuabin – phạm vi ứng dụng

1.4. Cấu tạo bơm - tuabin loại ly tâm – tâm trục

1.5. Tình hình nghiên cứu PaT trên thế giới

1.5.1. Vấn đề 1: Lựa chọn vùng làm việc của bơm và tuabin - tỷ số cột áp và lưu lượng tại điểm hiệu suất lớn nhất

1.5.2. Vấn đề 2: Dự báo đặc tính năng lượng của bơm–tuabin khi hoạt động ở chế độ bơm và tuabin

1.5.3. Vấn đề 3: Lý thuyết trong thiết kế bánh công tác cho máy thuận nghịch PaT

1.5.4. Vấn đề 4: Ảnh hưởng của một số thông số hình học bánh công tác đến đặc tính vận hành của bơm và tuabin

1.6. Tình hình nghiên cứu, thiết kế và sử dụng PaT ở Việt Nam

1.7. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CƠ SỞ LÝ THUYẾT THIẾT KẾ BÁNH CÔNG TÁC THUẬN NGHỊCH BƠM-TUABIN

2.1. Cơ sở lý thuyết để dự báo đặc tính của bơm - tuabin khi vận hành trong chế độ của bơm và tuabin

2.1.1. Tính toán cột nước lý thuyết- Hth

2.1.1.1. Cột nước lý thuyết của bánh công tác trong chế độ bơm
2.1.1.2. Cột nước lý thuyết của bánh công tác trong chế độ tuabin

2.1.2. Tính toán các thành phần tổn thất- hloss

2.1.2.1. Cột nước tổn thất thủy lực trong bánh công tác của chế độ bơm
2.1.2.2. Xác định tổn thất qua bánh công tác trong chế độ tuabin

2.1.3. Cột nước tổn thất thủy lực trong các bộ phận dẫn dòng

2.1.4. Hiệu suất toàn tổ máy

2.2. Cơ sở lý thuyết trong thiết kế bánh công tác thuận nghịch bơm-tuabin

2.2.1. Cơ sở lý thuyết thiết kế bơm ly tâm và tuabin tâm trục

2.2.2. Đề xuất phương pháp thiết kế và mẫu biên dạng cánh bánh công tác thuận nghịch bơm tuabin trong nghiên cứu

2.2.2.1. Phương pháp thiết kế
2.2.2.2. Đề xuất mẫu biên dạng cánh trong nghiên cứu

2.2.3. Quy trình thiết kế bánh công tác thuận nghịch bơm tuabin

2.3. Thiết kế mặt cắt kinh tuyến - Phân tích ảnh hưởng của một số thông số hình học chính đến chất lượng thủy lực của vận hành chế độ bơm và tuabin

2.3.1. Xác định các thông số đầu vào

2.3.2. Mục tiêu và các giả thiết thiết kế

2.3.3. Ảnh hưởng của đường kính D1, D2

2.3.4. Ảnh hưởng góc tới δ và góc đặt cánh β1B

2.3.5. Ảnh hưởng của góc đặt cánh β2B

2.3.6. Ảnh hưởng của số cánh Z

2.3.7. Đánh giá chung kết quả khảo sát một số thông số mặt cắt cửa vào, cửa ra và mặt cắt kinh tuyến

2.4. Thiết kế biên dạng cánh - Phân tích ảnh hưởng của biên dạng cánh đến hiệu suất của PaT

2.4.1. Lựa chọn bộ thông số đầu vào của mặt cắt kinh tuyến

2.4.2. Thiết kế ba phương án biên dạng cánh

2.4.3. Đánh giá chất lượng thủy lực của 3 mẫu cánh bằng mô phỏng số

2.4.3.1. Thiết lập bài toán mô phỏng 2D
2.4.3.2. Kết quả đánh giá 3 mẫu cánh
2.4.3.3. So sánh mô hình cánh thiết kế với mẫu cánh thông thường

2.4.4. Đánh giá chất lượng xâm thực của mẫu cánh thiết kế và đề xuất hiệu chỉnh biên dạng cánh

2.5. Cơ sở lý thuyết trong thiết kế các bộ phận dẫn dòng

2.5.1. Lý thuyết thiết kế buồng xoắn trong mô hình bơm và tuabin

2.5.2. Tính toán thiết kế cột trụ và cánh hướng

2.5.3. Thiết kế ống hút (ống xả)

2.6. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH DÒNG CHẢY TRONG TỔ MÁY BƠM –TUABIN BẰNG MÔ PHỎNG 3D

3.1. Thiết lập bài toán mô phỏng 3D ở chế độ dừng

3.1.1. Lựa chọn mô hình rối và mô hình quay

3.1.2. Các điều kiện biên

3.1.3. Các kết quả trong chế độ bơm

3.1.4. Kết quả trong chế độ tuabin

3.1.5. Đánh giá phân bố tổn thất trong chế độ bơm và tuabin

3.1.6. Đánh giá ảnh hưởng của cột trụ đến hiệu suất của máy PaT

3.1.7. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM MÔ HÌNH BƠM – TUABIN THUẬN NGHỊCH

4.1. Giới thiệu về hệ thống thử nghiệm của Công ty CP chế tạo bơm Hải Dương

4.2. Các thông số hình học của tổ máy thí nghiệm

4.3. Thiết lập sơ đồ và phương án thí nghiệm chế độ bơm

4.3.1. Sơ đồ và các thành phần thí nghiệm

4.3.2. Quy trình thử nghiệm

4.3.3. Kết quả và thảo luận các kết quả trong vận hành bơm

4.3.3.1. Đánh giá các đường cong năng lượng
4.3.3.2. So sánh với các nghiên cứu lý thuyết và mô phỏng

4.4. Thiết lập sơ đồ và phương án thí nghiệm tuabin

4.4.1. Quy trình thử nghiệm

4.4.2. Kết quả và thảo luận trong vận hành chế độ tuabin

4.4.2.1. Đánh giá các đường cong năng lượng
4.4.2.2. So sánh với các tính toán lý thuyết

4.5. Đánh giá ảnh hưởng của độ mở cánh hướng đến vận hành bơm và tuabin

4.5.1. Đánh giá vùng làm việc của bơm và tuabin

4.5.2. Đánh giá tỷ lệ về cột nước và lưu lượng tại điểm BEP

4.6. Xác định và đánh giá sai số đo

4.6.1. Công thức tính toán sai số

4.6.2. Tính toán và đánh giá sai số của nghiên cứu

4.7. Kết luận chương 4

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về máy thủy lực thuận nghịch bơm tuabin

Chương này cung cấp cái nhìn tổng quan về máy bơm tuabin thuận nghịch, bao gồm lịch sử phát triển, các loại bơm phù hợp cho vận hành tuabin, và cấu tạo của bơm-tuabin loại ly tâm–tâm trục. Nghiên cứu cũng đề cập đến tình hình nghiên cứu bơm tuabin trên thế giới, tập trung vào các vấn đề như lựa chọn vùng làm việc, dự báo đặc tính năng lượng, và ảnh hưởng của thông số hình học bánh công tác đến hiệu suất. Tại Việt Nam, việc nghiên cứu và thiết kế bơm tuabin còn hạn chế, đặc biệt là trong việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến.

1.1. Lịch sử phát triển của bơm tuabin

Bơm tuabin đã được sử dụng rộng rãi trong các nhà máy thủy điện tích năng từ những năm 1930. Sự phát triển của công nghệ này gắn liền với nhu cầu điều chỉnh cân bằng năng lượng giữa các thời điểm cao điểm và thấp điểm. Các nghiên cứu ban đầu tập trung vào việc tối ưu hóa hiệu suất máy bơmtuabin NS thấp, đặc biệt là trong các hệ thống có cột nước cao.

1.2. Cấu tạo và nguyên lý hoạt động

Bơm tuabin thuận nghịch có cấu tạo gồm bánh công tác, buồng xoắn, và các bộ phận dẫn dòng. Nguyên lý hoạt động dựa trên việc chuyển đổi giữa chế độ bơm và tuabin, tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng năng lượng. Thông số hình học của bánh công tác đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định hiệu suất năng lượng của máy.

II. Phân tích cơ sở lý thuyết thiết kế bánh công tác

Chương này tập trung vào việc phân tích cơ sở lý thuyết để thiết kế bánh công tác thuận nghịch. Nghiên cứu đề cập đến các phương pháp tính toán cột nước lý thuyết, tổn thất thủy lực, và hiệu suất toàn tổ máy. Đồng thời, nghiên cứu cũng đề xuất phương pháp thiết kế bánh công tác dựa trên các thông số hình học và biên dạng cánh, nhằm tối ưu hóa hiệu suất máy bơmtuabin NS thấp.

2.1. Tính toán cột nước lý thuyết

Cột nước lý thuyết được tính toán dựa trên các thông số hình học của bánh công tác và đặc tính dòng chảy. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc tối ưu hóa thông số hình học có thể giảm thiểu tổn thất và nâng cao hiệu suất năng lượng của máy.

2.2. Thiết kế biên dạng cánh

Biên dạng cánh của bánh công tác được thiết kế dựa trên các phương pháp mô phỏng số và thực nghiệm. Nghiên cứu đề xuất ba phương án biên dạng cánh khác nhau, với mục tiêu tối ưu hóa hiệu suất máy bơmtuabin NS thấp trong cả hai chế độ hoạt động.

III. Nghiên cứu đặc tính dòng chảy bằng mô phỏng 3D

Chương này trình bày kết quả nghiên cứu đặc tính dòng chảy trong máy bơm tuabin bằng phương pháp mô phỏng 3D. Nghiên cứu tập trung vào việc phân bố vận tốc, áp suất, và tổn thất trong các chế độ bơm và tuabin. Kết quả cho thấy việc tối ưu hóa thông số hình học và biên dạng cánh có thể cải thiện đáng kể hiệu suất năng lượng của máy.

3.1. Phân bố vận tốc và áp suất

Nghiên cứu sử dụng mô phỏng 3D để phân tích phân bố vận tốc và áp suất trong bánh công tác. Kết quả cho thấy sự phân bố không đồng đều của vận tốc và áp suất có thể dẫn đến tổn thất năng lượng đáng kể. Việc tối ưu hóa thông số hình học giúp giảm thiểu các tổn thất này.

3.2. Đánh giá tổn thất

Nghiên cứu đánh giá các tổn thất thủy lực trong máy bơm tuabin dựa trên kết quả mô phỏng. Các tổn thất chính bao gồm tổn thất ma sát, tổn thất do dòng xoáy, và tổn thất do va đập đầu cánh. Việc tối ưu hóa thông số hình học và biên dạng cánh giúp giảm thiểu các tổn thất này.

IV. Nghiên cứu thực nghiệm mô hình bơm tuabin

Chương này trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên mô hình bơm tuabin thuận nghịch. Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá hiệu suất máy bơmtuabin NS thấp trong các điều kiện vận hành khác nhau. Kết quả thực nghiệm cho thấy sự tương đồng với các kết quả mô phỏng, khẳng định tính chính xác của phương pháp nghiên cứu.

4.1. Đánh giá hiệu suất

Nghiên cứu thực nghiệm đánh giá hiệu suất máy bơmtuabin NS thấp dựa trên các đường cong năng lượng. Kết quả cho thấy việc tối ưu hóa thông số hình học và biên dạng cánh giúp nâng cao hiệu suất năng lượng của máy.

4.2. So sánh với mô phỏng

Kết quả thực nghiệm được so sánh với các kết quả mô phỏng, cho thấy sự tương đồng cao. Điều này khẳng định tính chính xác của phương pháp mô phỏng và thiết kế bánh công tác dựa trên thông số hình học.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ kỹ thuật cơ khí động lực nghiên cứu ảnh hưởng của một số thông số hình học của bánh công tác đến đặc tính làm việc của máy thuận nghịch bơm tuabin ns thấp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ MÁY THỦY LỰC THUẬN NGHỊCH BƠM–TUABIN 1.1 Giới thiệu chung về bơm–tuabin 1.1 Lịch sử phát triển của bơm–tuabin trong thủy điện tích năng Công trình thuỷ điện tích năng là một công trình thủy điện phát điện bằng việc sử dụng năng lượng nước dưới dạng tích trữ năng lượng nước ở cột nước cao bằng cách bơm lên. Thuỷ điện tích năng gồm 2 hồ điều tiết là hồ trên và hồ dưới, hai hồ này được nối với nhau bằng hệ thống đường dẫn và nhà máy thuỷ điện – trạm bơm. Tùy theo từng trường hợp cụ thể mà sơ đồ công trình thủy điện tích năng có thể khác nhau. Loại song song Loại thuận nghịch Máy phát- động cơ Turbine Bơm-tuabin kiểu tâm trục Bơm Kiểu hỗn lưu (cánh chéo) a.

Loại 3 máy với ly bơm tâm và b. Loại bơm- tuabin thuận nghịch tuabin tâm trục tách biệt nhau Hình 1.1 Các loại máy dùng cho nhà máy thủy điện tích năng Thiết bị dùng cho nhà máy thủy điện tích năng đã trải qua lịch sử phát triển khá dài. Thủa sơ khai, ban đầu, người ta sử dụng thiết bị cơ điện với tổ hợp 4 máy và liên kết với nhau theo 2 cụm: bơm– động cơ điện và tuabin – máy phát. Kết cấu 4 máy có kích thước cồng kềnh và phức tạp.

Tiếp đó, các nước đã cải tiến phần thiết bị điện: gộp máy phát điện và động cơ thành một máy làm việc ở hai chế độ khác nhau. Phần bơm và tuabin vẫn tách riêng. 19 Cùng với thời gian và sự phát triển của khoa học công nghệ, các nhà khoa học đã nghiên cứu và hòa nhập máy bơm và tuabin thành một máy làm việc ở cả hai chế độ bơm và tuabin. Khi ấy, thiết bị cơ điện cho NMTĐTN đã được thu gọn thành tổ máy nối hai máy thành phần bơm –tuabin và máy phát - động cơ điện.

Về kỹ thuật, sự hòa nhập máy phát và động cơ điện được thực hiện dễ dàng và thuận lợi hơn nhiều. Hiệu suất làm việc của máy điện ở chế độ máy phát và chế độ động cơ điện có trị số như nhau. Tuy nhiên, việc hòa nhập hai máy thủy lực (máy bơm và tuabin) thành một máy được thực hiện khó khăn hơn nhiều vì tình hình thủy lực của dòng chảy trong 2 chế độ bơm và chế độ tuabin khác nhau rất nhiều. Đối với thiết bị kiểu 2 máy này, để thuận lợi cho việc gọi tên, người ta quan tâm đến bơm và tuabin nhiều hơn là máy điện (máy phát và động cơ điện).

Chính vì vậy, các nhà khoa học đã thống nhất gọi tên là máy bơm –tuabin. Ngoài ra, có thể gọi là máy thuận nghịch hay máy thủy lực hai chiều. Đối với các thiết bị cho NMTĐTN, có thể sử dụng các loại máy bơm hoặc tuabin khác nhau. Ví dụ như hình 1.1a trình bày loại thiết bị 3 máy với bơm ly tâm và tuabin tâm trục.

Đối với các dạng bơm – tuabin thuận nghịch như Hình 1.1b có thể sử dụng các tổ hợp bơm ly tâm – tuabin tâm trục, bơm dòng chéo – tuabin hướng chéo. So với loại NMTĐTN có bơm và tuabin được lắp đặt riêng biệt thì loại sử dụng bơm-tuabin thuận nghịch tuy hiệu suất có thấp hơn đôi chút và cột nước áp dụng cũng không được cao bằng nhưng chi phí xây dựng cho loại bơm - tuabin thuận nghịch thấp hơn nhiều và đặc biệt là rất dễ dàng cho quá trình điều chỉnh tổ máy. Thêm vào đó, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ thì loại bơm - tuabin thuận nghịch đã được cải tiến để nâng cao hiệu suất cũng như mở rộng được tối đa vùng làm việc về cả cột nước lẫn công suất của nó. Chính vì vậy, loại bơm-tuabin thuận nghịch ngày càng trở nên phổ biến và chiếm ưu thế trong các NTTĐTN.

Loại máy bơm–tuabin PaT được khám phá lần đầu tiên vào năm 1931 khi Thoma và Kittredge [1] đã kết nối những đặc tính của máy bơm, họ đã nhận ra rằng máy bơm hoàn toàn có thể vận hành một cách hiệu quả trong chế độ của tuabin. Sau đó, một số nghiên cứu thực nghiệm cũng đã được tiến hành để khảo sát đặc tính của bơm trong chế độ tuabin có số vòng quay đặc trưng thấp [2, 3], kết quả đã chỉ ra rằng một máy bơm có thể vận hành tốt như một tuabin mà không có bất cứ một vấn đề cơ khí nào xảy ra. Khi so sánh các đường cong năng lượng của bơm và tuabin cho thấy khi PaT vận hành trong chế độ của bơm sẽ có lưu lượng Q và cột nước H thấp hơn của tuabin nhưng hiệu suất của bơm lại cao hơn của tuabin vài phần trăm tùy vào máy. Máy PaT gồm dạng một cấp và nhiều cấp.

So sánh loại bơm-tuabin một cấp với nhiều cấp cho thấy: Loại bơm - tuabin nhiều cấp có thể được áp dụng đối với các vị trí có cột nước cao, nhưng nó không thể thực hiện chức năng điều chỉnh công suất 20 khi vận hành, một trong các chức năng cần thiết cho nhà máy Thuỷ điện tích năng, do khó khăn trong việc điều chỉnh lưu lượng. Mặc dù bơm - tuabin loại một cấp có lợi hơn nhiều về chi phí so với loại bơm - tuabin nhiều cấp do chi phí xây dựng thấp, chi phí vận hành và bảo dưỡng thấp, nhưng cũng có một số hạn chế nhất định khi áp dụng đối với các vị trí cột nước cao. Tuy nhiên, những hạn chế đó đã được cải thiện đáng kể theo thời gian. Những NMTĐTN đầu tiên đã xuất hiện ở châu Âu vào cuối thế kỷ XIX.

Năm 1882, ở thành phố Siupika của Thụy Sĩ đã lắp đặt hai máy bơm với công suất mỗi máy lên đến 515kW để bơm nước lên độ cao 153m, đổ vào bể chứa với dung tích 18000m3. Năm 1894, NMTĐTN bắt đầu được xây dựng tại Kreva- Luna của Italy với công suất 50kW, cột nước ở chế đô tuabin là 64m để phục vụ cho nhà máy dệt, làm việc tích năng theo tuần: bơm nước lên bể vào các ngày thứ 7, chủ nhật và làm việc ở chế độ tuabin để cấp điện cho các ngày còn lại trong tuần. Năm 1912, tại các nước Tây Âu đã có 7 NMTĐTN với công suất mỗi tổ từ 40-300kW. Đó là các NMTĐTN nhỏ, phục vụ cho việc tăng công suất điện vào ban ngày đối với những nơi không có bể chứa với dung tích nước cần thiết.

Cho đến năm 1995, việc phát triển các NMTĐTN diễn ra với nhịp độ chậm. Vào cuối những năm của thể kỷ XX, những NMTĐTN tương đối lớn đã được xây dựng. Năm 1926, ở Thụy Sĩ đã xây dựng được NMTĐTN với công suất 11MW và cột áp là 905m. Từ năm 1912 đến 1927, trên thế giới đã đưa vào sử dụng 32 NMTĐTN với công suất mỗi tổ từ 0,5-6MW.

Năm 1928, tại Mỹ đã xây dựng được liên hiệp nhà máy thủy điện – nhà máy thủy điện tích năng Roki – Rivero có công suất là 25MW và cột áp là 74m.8 Kannagawa 653 Effective Head (m) Bajina Basta 600.3 500 Hmax (m) Okuyoshino 507 Okukiyotsu 490 Maximum Villarino 402 400 Robien Chatmilles 390 Cabin Creek 375 Shiobara 356 300 Provvidenza 274 Shintoyone 236 Stafel 232 Shintakasegawa 241.5 Mio137 Japanease Transition Ohmorigawa 118 Azumi 134.9 Overseas Transition 100 Hiwassee 74 Yagisawa 111 Midono 80 TEPCO Facilities 0 1955 60 65 70 75 80 85 90 95 2000 2005 Year Commissioned Năm Hình 1.2 Sự phát triển của máy bơm – tuabin một cấp [4] 21 Bảng 1.1 Thống kê một số trạm thủy điện tích năng lớn trên thế giới sử dụng máy bơm – tuabin thuận nghịch Vận hành tuabin Chế độ bơm Năm Tên nhà máy TĐTN Quốc gia P(kW) H(m) n(v/p) H(m) Q(m3/s) Helms USA 414 531,6 360 517 73,6 1984 Kazumogawa Japan 412 728 500 778 50,3 1999 Samrangjin Korea 370 345 300 355 103,3 1985 Ludington USA 343 107,7 113 113,6 314 1973 Okawachi Japan 331 415,6 330-390 432 81,7 1993 Bear Swamp USA 320 228,6 225 240,8 125,4 1974 Rocky Mt USA 320 210,3 225 218,5 146,4 1987 Nabara Japan 318 317,5 257 340,5 110 2003 Omarugawa Japan 310 671,8 576-624 720,4 44,1 2010 Hình 1.1 cho thấy quá trình phát triển và ứng dụng của máy PaT một cấp theo thời gian. Trong thời gian đầu phát triển bơm-tuabin thuận nghịch dạng ly tâm-francis một cấp, phạm vi làm việc còn hẹp, công suất nhỏ thường từ 50MW đến 100MW, cột nước lớn nhất cũng chỉ đạt gần 130m [5]. Trong vòng 15 năm sau (những năm 1985), cột nước lớn nhất có thể vận hành lên đến 559,2m, công suất lên tới 412MW. Vượt bậc hơn cả là đến năm 1999, cột nước bơm trong mô hình PaT đã đạt đến 728m do hãng Hitachi công bố và được lắp đặt tại TTĐTN Kazunogawa của Nhật Bản.

Tương tự như ở Nhật Bản, một số TTĐTN của Trung Quốc theo thời gian. Hầu hết các Trạm đều có công suất lắp máy là 300MW, cột nước cao nhất trên 600m. Một số Trạm như Yangjiang, Jixi, Pingjiang, và Wulongshan có cột nước đạt gần 700m.2 Các loại bơm phù hợp cho vận hành tuabin – phạm vi ứng dụng Các nghiên cứu trước đây đã khẳng định rằng tất cả các loại bơm từ trục đứng hay trục ngang, từ ly tâm hay hướng trục đều có thể vận hành được dưới dạng tuabin [6]. Tuy nhiên, bơm ly tâm cho hiệu suất cao hơn và được ứng dụng nhiều nhất trong thực tế ngày nay cho thấy phạm vi và ứng dụng của các loại bơm khác nhau có thể sử dụng được dưới dạng tuabin.

Như có thể thấy, bơm ly tâm nhiều cấp phù hợp với phạm vi cột nước cao, lưu lượng nhỏ; trong khi bơm hướng trục phù hợp với phạm vi cột nước thấp, lưu lượng cao. Kết quả đồng thời cho thấy bơm ly tâm một cấp có vùng làm việc về lưu lượng khá rộng và cột nước cũng tương đối cao. Đây là loại được dùng phổ biến nhất hiện nay.3 Cấu tạo bơm - tuabin loại ly tâm – tâm trục Không giống như một bơm thông thường, tổ máy PaT được thiết kế với đầy đủ hệ thống cột trụ và van điều chỉnh lưu lượng để đảm bảo các điều kiện vận hành của tuabin. Sự khác biệt này đã làm tăng tổn thất cũng như sự thay đổi về cấu trúc dòng chảy của bơm.

Cấu tạo của máy thuận nghịch PaT là sự kết hợp của hai mô hình độc lập bơm và tuabin bao gồm các bộ phận như hình 1.3 Mặt cắt ngang mô hình bơm – tuabin dạng ly tâm –francis [7] với các bộ phận chính sau: Buồng xoắn (1), vùng cánh hướng và cột trụ (2), bánh công tác (3), ống hút (ống xả) (4) Bánh công tác Bom Cánh Bom Z =6-9 Cánh Tuabin Z = 13-21 Bánh công tác Tuabin D1T=D1P Tuabin Bom D2P D2T Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu ảnh hưởng thông số hình học bánh công tác đến hiệu suất máy bơm tuabin NS thấp là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích và đánh giá các yếu tố hình học của bánh công tác, từ đó tối ưu hóa hiệu suất của máy bơm tuabin NS thấp. Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết quan trọng về cách thiết kế và cải tiến bánh công tác để nâng cao hiệu quả hoạt động của máy bơm, đặc biệt trong các ứng dụng công nghiệp và năng lượng. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các kỹ sư, nhà nghiên cứu và sinh viên quan tâm đến lĩnh vực cơ khí và năng lượng.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo 2 tóm tắt luận án tiến sĩ tiếng việt ncs nguyễn khắc tấn, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về các công trình nghiên cứu chuyên sâu. Ngoài ra, Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng cũng là một tài liệu đáng chú ý, giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp cải thiện hiệu suất trong nghiên cứu và ứng dụng thực tế. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng pahs trong trà cà phê tại việt nam mang đến góc nhìn mới về đánh giá rủi ro và tối ưu hóa trong các lĩnh vực khoa học ứng dụng.