CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP 1. Vốn lưu động trong doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn lưu động trong doanh nghiệp Vốn lưu động là một thước đo về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và sức khỏe tài chính ngắn hạn của công ty. Nói cách khác, vốn lưu động là số tiền mà doanh nghiệp cần để thanh toán các nghĩa vụ nợ ngắn hạn như hóa đơn, chi phí hoạt động, chi phí lương cho nhân viên,.
Trong nghiên cứu của mình, Brigham và Houston (2007) định nghĩa vốn lưu động là tổng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, bao gồm tiền mặt, các khoản tương đương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho, các tài sản ngắn hạn khác được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp. Theo Vương Đức Hoàng Quân (2016), vốn lưu động đề cập đến tài sản lưu động dùng trong hoạt động của doanh nghiệp, đó là nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp vào tài sản lưu động. Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Như vậy, vốn lưu động là nguồn vốn sẵn có của một doanh nghiệp để trang trải chi phí hoạt động hàng ngày và hỗ trợ các hoạt động kinh doanh đang diễn ra của doanh nghiệp.
Nó thể hiện sự khác biệt giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn của daonh nghiệp. Vốn lưu động ròng (Net Working Capital -NWC) được xác định là sự khác biệt giữa tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp (tiền, khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho,.) và nghĩa vụ nợ ngắn hạn của doanh nghiệp (phải trả người bán,. Trong cuốn “Corporate Finance”, Firer, Ross, Westerfiel và Jordan (2008) cũng cũng đưa ra quan điểm tương tự khi định nghĩa NWC là tài sản ngắn hạn trừ đi nợ ngắn hạn. Nếu một công ty có NWC dương, điều đó cho thấy doanh nghiệp có đủ nguồn lực để đáp ứng nhu cầu mở rộng và phát triển.
Ngược lại, nếu NWC của doanh nghiệp âm (nghĩa vụ nợ ngắn hạn vượt quá tài sản ngắn hạn), doanh nghiệp đó có thể sẽ gặp phải vấn đề về thanh khoản khi mà không đủ nguồn lực ngắn hạn để chi trả cho các nghĩa vụ ngắn hạn. Đặc điểm của vốn lưu động Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất. Trong quá trình kinh doanh, vốn lưu động chuyển hoàn toàn, một lần giá trị thành giá trị vật chất, khi chấm dứt quá trình sản xuất, giá trị cuối cùng được thu hồi và vốn lưu động được hoàn trả. Trong quá trình sản xuất, vốn lưu động được luân chuyển dưới nhiều dạng khác nhau ở mỗi giai đoạn.
Các giai đoạn của vòng tuần hoàn kinh tế thường đan xen với nhau mà không tách bạch riêng biệt. Vì vậy trong quá trình sản xuất kinh doanh, quản lý vốn lưu động có một vai trò quan trọng. Việc quản lý vốn lưu động đòi hỏi phải luôn theo sát tình hình lưu thông tiền tệ, kịp thời khắc phục những ách tắc sản xuất, đảm bảo đồng vốn luôn luôn luân chuyển thông suốt và nhịp nhàng. Sự luân chuyển của vốn lưu động được gắn chặt với lợi ích của doanh nghiệp và người lao động.
Vòng quay của vốn càng được quay nhanh thì doanh thu càng cao sẽ dễ dàng thu hồi được vốn, cắt giảm chi phí sử dụng vốn một cách hợp lí làm tăng thu nhập của doanh nghiệp, doanh nghiệp có điều kiện huy động vốn đầu tư đẩy mạnh sản xuất, không ngừng cải thiện đời sống của công nhân viên chức của doanh nghiệp. Phân loại vốn lưu động Tùy theo hình thức của doanh nghiệp, đặc điểm kinh doanh, phương pháp kinh doanh,. mà vốn lưu động được chia thành nhiều loại khác nhau. Vốn lưu lưu động có thể được phân loại dựa trên những tiêu chí sau: Căn cứ theo quá trình luân chuyển và tuần hoàn của vốn Vốn lưu động trong quá trình dự trữ sản xuất: vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, bao bì đóng gói và công cụ dụng cụ nhỏ.
Vốn lưu động trong quá trình sản xuất: giá trị sản phẩm dở dang chế tạo, bán thành phẩm, chi phí chờ phân bổ. Vốn lưu động trong quá trình lưu thông: giá trị thành phẩm, vốn trong thanh toán và vốn bằng tiền. Căn cứ vào nguồn hình thành vốn lưu động 5 Vốn chủ sở hữu: là vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Nhà nước vốn chủ sở hữu bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp: là vốn mà khi mới thành lập doanh nghiệp Nhà nước cấp để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh; Vốn tự bổ sung từ lợi nhuận của doanh nghiệp.
Vốn lưu động coi như tự có: là vốn lưu động không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, có thể được sử dụng hợp lý vào quá trình sản xuất kinh doanh của minh như: tiền lương, tiền bảo hiểm chưa đến kỳ trả, các khoản chi phí tính trước… Vốn lưu động đi vay (vốn tín dụng) là một bộ phận của lưu động của doanh nghiệp được hình thành từ các nguồn vốn vay tín dụng của ngân hàng, tập thể cá nhân và các tổ chức khác. Vốn lưu động được hình thành từ phát hành cổ phiếu, trái phiếu của doanh nghiệp. Căn cứ theo hình thái biểu hiện Vốn vật tư hàng hóa: Là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng hiện vật vụ thể như nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm. Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn bằng tiền mặt, đầu tư công ty… 1.
Chu trình luân chuyển vốn lưu động (Vòng quay vốn lưu động) Vòng quay vốn lưu động là thời gian cần để doanh nghiệp chuyển đổi các nguồn lực của mình như hàng tồn kho, khoản phải thu khách hàng thành tiền, nói cách khác, nó đo lường thời gian từ khi doanh nghiệp chi trả tiền cho những nguồn lực đến khi thu lại tiền từ việc bán hàng cho khách hàng. Vòng quay vốn lưu động thể hiện hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong việc tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp. Vòng quay vốn lưu động cho các loại hình doanh nghiệp khác nhau sẽ có những sự khác biệt nhất định nhưng nhìn chung sẽ có những bước như sau: Mua nguyên vật liệu, hàng hóa: Đầu tiên, nguyên vật liệu sẽ được doanh nghiệp mua từ người bán (mua mà chưa cần trả tiền ngay lập tức). Quá trình này đảm 6 bảo doanh nghiệp luôn có đủ nguồn nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất không bị gián đoạn.
Quản lý hàng tồn kho: Hàng hóa sau khi được sản xuất (hoặc được mua về) sẽ được quản lý tại kho của doanh nghiệp. Quản lý hàng tồn kho bao gồm giám sát và kiểm soát hàng hóa để đảm bảo hàng hóa luôn đáp ứng được số lượng và chất lượng cho chu trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thu tiền từ khách hàng: Vòng quay vốn lưu động kết thúc khi doanh nghiệp thu được tiền tiền từ khách hàng, đánh dấu sự hoàn thành của một chu trình luân chuyển vốn lưu động. Vòng tuần hoàn của vốn lưu động đảm bảo doanh nghiệp có thể hoạt động liên tục, quản lý dòng tiền trong hoạt động sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả và đảm bảo sự cân bằng giữa nhu cầu cho nguyên vật liệu đầu vào và doanh thu được tạo ra từ việc bán hàng.
Như vậy, việc quản trị vốn lưu động là rất quan trọng trong bất cứ doanh nghiệp nào để đạt được mục tiêu lợi nhuận và phát triển bền vững của mình. Quản trị vốn lưu động 1. Khái niệm quản trị vốn lưu động Quản trị vốn lưu động là quá trình quản trị các tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Nói cách khác, quảm trị vốn lưu động là quá trình quản trị hiệu quả các tài sản ngắn hạn để đảm bảo khả năng chi trả các nghĩa vụ nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
Nó bao gồm các chiến lược nhằm tối ưu hóa sự cân bằng giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn để hỗ trợ hoạt động kinh doanh và tối ưu hóa lợi nhuận của doanh nghiệp. Trong đó, tài sản ngắn hạn bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, các khoản phải thu còn quản trị nợ ngắn hạn bao gồm việc quản lý các khoản phải trả người bán (Ogundipe và công sự, 2012). Quản trị vốn lưu động là một chính sách quan trọng đối với doanh nghiệp vì nó phản ánh khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có lãi từ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nhưng vẫn sẽ phải đối mặt với khả năng phá sản nếu không có một chiến lược quản trị vốn lưu động hợp lý.
7 Theo Hutchison, Farri II và Ander (2007), hiệu quả của quản trị vốn lưu động được đo lường bằng chu kỳ luân chuyển tiền, kỳ luân chuyển này càng được rút ngắn thì càng gia tăng khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Nội dung quản trị vốn lưu động Quản trị vốn lưu động thường liên quan đến việc quản lý những tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, bao gồm: Quản trị vốn bằng tiền, quản trị khoản phải thu, quản trị hàng tồn kho, quản trị khoản phải trả. Quản trị vốn bằng tiền Tiền trong doanh nghiệp bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Đây là loại tài sản có mức độ thanh khoản cao nhất trong các loại tài sản, tuy nhiên, tiền lại không có khả năng sinh lời.
Chính vì vậy, mục đích của việc quản trị tiền mặt là tối thiểu lượng tiền mặt hiện có và vẫn duy trì được sự cân đối giữa việc nhập cũng như xuất quỹ được hoạt động bình thường. Khi quyết định chính sách quản trị tiền mặt, doanh nghiệp cần phải xác định được mức độ phù hợp của các tài sản dùng để chi trả cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hằng ngày như: trả lương cho nhân viên, thanh toán thuế, cổ tức,. Quản trị vốn vốn bằng tiền có thể chia thành quản lý dòng tiền vào và quản lý dòng tiền ra: Đối với quản lý dòng tiền vào: ● Xác định mức dự trữ vốn bằng tiền hợp lý, duy trì vừa đủ khoản tiền mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Dự trữ thừa hay thiếu hoặc không dự trữ tiền mặt sẽ làm doanh nghiệp phải đối mặt với chi phí rủi ro lớn (Dự trữ nhiều: rủi ro lãi suất, chi phí biến đổi, rủi ro lạm phát,.
Xác định mức dự trữ vốn bằng tiền một cách hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp tránh được những rủi ro và tận dụng tốt các cơ hội kinh doanh, tăng cơ hội thu lời.