Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Trong nền kinh tế phát triển hiện nay, ngành nông nghiệp Việt Nam đang được đầu tư với hướng đi đúng đắn và chuyên biệt rõ rệt nhằm tạo ra những sản phẩm chất lượng, chi phí thấp, lợi nhuận cao. Song song với việc phát triển nông nghiệp là sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực phân bón, trong đó phân bón hữu cơ đã được nông dân sử dụng từ rất lâu đời trong quá trình trồng trọt như dùng trực tiếp các loại phân gia súc, gia cầm, ủ cây, lá… Từ khi có phân hóa học ra đời nâng cao được năng suất thì vai trò phân hữu cơ giảm nhẹ, thậm chí lạm dụng phân hóa học trong sản xuất nông nghiệp mà không cần sự hiện diện của phân hữu cơ nhưng việc sử dụng sai lầm này đã dẫn đến một nền nông nghiệp không bền vững, chi phí sản xuất tăng, sâu bệnh nhiều, năng suất không ổn định và đặc biệt chất lượng nông sản thấp, giá thành giảm mạnh. Chất hữu cơ đối với cây ăn quả thì không thể thiếu, nó có một số tác dụng cụ thể như sau.
Thứ nhất chất hữu cơ tồn tại xen kẽ với các thành phần kết cấu của đất, tạo tạo ra sự thông thoáng giúp rễ phát triển mạnh nên có cường độ hô hấp tối đa và dễ dàng hấp thu các nguồn dinh dưỡng. Thứ hai chất hữu cơ sẽ lưu giữ các khoáng chất đa, trung vi lượng từ các loại phân bón hóa học và cung cấp dần cho cây hạn chế được hiện tượng thất thoát phân bón trong quá trình sử dụng, giảm chi phí đáng kể trong sản xuất nông nghiệp, giúp đất giữ ẩm làm cây chống chịu khô hạn tốt hơn. Thứ ba, sự hiện diện của chất hữu cơ làm môi trường sống cho các hệ vi sinh có ích, các hệ vi sinh này cân bằng môi trường của hệ sinh thái vì vậy sẽ hạn chế một số đối tượng gây bệnh, góp phần tăng năng suất và chất lượng nông sản. e 5 Bón phân là một trong những biện pháp kỹ thuật được thực hiện phổ biến, thường mang lại hiệu quả lớn nhưng cũng chiếm phần khá cao trong chi phí sản xuất.
Chế độ phân bón ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng và phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh và quyết định năng suất, chất lượng của cây. Hiểu rõ tác dụng của từng loại phân bón trong từng thời kỳ phát triển của cây sẽ giúp người nông dân có kế hoạch chăm sóc, bón phân hợp lý đảm bảo tăng năng suất cây trồng nhưng không gây ô nhiễm, không ảnh hưởng đến sức khoẻ người nông dân và không có những tác động tiêu cực lên các hệ sinh thái. Cây Cam cần rất nhiều phân hữu cơ, ngoài việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho cây phân hữu cơ còn có tác dụng rất tốt trong việc cải tạo đất, làm đất tơi xốp. Khi cây lớn lên, nhu cầu kali của cây càng tăng đặc biệt là giai đoạn cây trồng trưởng thành và chuẩn bị ra hoa.
Kali hỗ trợ cho quá trình chuyển hóa năng lượng, đồng hóa các chất dinh dưỡng để kiến tạo năng suất và chất lượng sản phẩm. Bón đủ kali sẽ tạo điều kiện cho cây có khả năng hút đạm và lân tốt hơn, điều hòa tốt các chất dinh dưỡng là nền tảng cho một vụ mùa bội thu. Được xem là nguyên tố phẩm chất (quả to và ngọt hơn), chắc mô giúp chống tốt. Thiếu kali lá phát triển không bình thường.
có những vết xám hay màu đồng, dễ rụng, cây chịu rét kém, sức chống chịu bệnh yếu, chất lượng kém, nhiều kali ảnh hưởng đến sinh trưởng Bón lưu huỳnh không những làm tăng năng suất cây trồng mà còn có tác dụng: + Tăng lượng protein, đặc biệt đối với cây lương thực + Giảm tỷ lệ N : S, sẽ giảm hàm lượng nitrat trong nông sản. + Cung cấp thêm hương vị cho lương thực, thực phẩm. + Tăng hàm quang dầu + Tăng tính chịu hạn, chống chịu sâu bệnh - Việc bón phân cho cây cam không thể định lượng được mà phải căn cứ theo điều kiện đất đai ở từng nơi, điều kiện thời tiết, từng thời kỳ phát triển của cây cam. Chỉ có thể tạo được sự hợp lý trong cách bón phân khi vận dụng tốt những kết quả thu được và được tổng kết cho các trường hợp điển hình vào hoàn cảnh và điều e 6 kiện cụ thể một cách khoa học và sáng tạo.
Tuy nhiên người nông dân rất cần quan tâm đến những chỉ số có tính chất hướng dẫn này để tích lũy kinh nghiệm trồng trọt và làm tăng năng suất cây trồng, tăng phẩm chất hàng hóa và tăng hiệu quả kinh tế. Việc áp dụng biện pháp kỹ thuật bón phân trong từng giai đoạn là rất cần thiết vì cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, chính vì vậy cần nghiên cứu liều lượng bón phân thích hợp cho cây trồng cung cấp đầy đủ, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu liều lượng phân bón NTR2 và K2SO4 đến chất lượng và năng suất của giống Cam Xã Đoài trồng tại Huyện Hàm Yên, Tuyên Quang là rất cần thiết.Tình hình sản xuất cam trên thế giới và trong nước 1.Tình hình sản xuất cam trên thế giới Cam nổi tiếng thế giới hiện nay được trồng phổ biến ở những vùng có khí hậu khá ôn hòa thuộc vùng á nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ôn đới ven biển chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương. Các nước trồng cam nổi tiếng hiện nay đó là: - Địa Trung Hải và Châu Âu bao gồm các nước: Tây Ban Nha, Italia, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Isaren, Tunisia, Algeria - Vùng Bắc Mỹ bao gồm các nước: Hoa Kỳ, Mexico, - Vùng Nam Mỹ bao gồm các nước: Braxin,Venezuela, Argentina, Uruguay.
- Vùng Châu Á bao gồm các nước: Trung Quốc và Nhật Bản. - Các hòn đảo Châu Mỹ bao gồm các nước: Jamaica, CuBa, Cộng hòa Dominica. Tình hình sản xuất cam trên thế giới Các châu lục trên thế giới Châu Thế giới Chỉ tiêu Năm Châu Châu Châu Mỹ Châu Á Đại Phi Âu Dương 2012 462,5 1618,4 1549,4 293,5 21,1 3945,0 2013 479,8 1583,8 1728,5 296,9 21,6 4110,7 Diện tích 2014 452,3 1562,9 1.29,6 281,5 19,1 4045,4 (nghìn ha) 2015 465,6 1556,2 1619,6 302,4 18,4 3962,2 2016 482,3 1506,4 1657,1 297,9 21,6 3965,3 2012 185,7 212,0 137,2 197,5 190,2 178,3 2013 185,9 212,2 138,5 209,8 190,3 177,9 Năng suất (tấn/ha) 2014 203,4 204,5 142,5 219,8 189,3 178,9 2015 200,5 202,8 157,4 200,6 189,1 183,7 2016 193,3 207,5 158,8 197,3 189,6 184,6 2012 8588,2 34305,3 21262,5 5794,9 401,8 70352,7 2013 8920,1 33609,3 23939,8 6231,2 412,5 73112,6 Sản lượng 2014 9201,7 31965,2 24641,9 6186,9 361,6 72357,2 ( nghìn tấn) 2015 9334,2 31553,2 25492,7 6065,8 348,5 72794,3 2016 9322,8 31259,8 26319,4 5876,5 409,0 73187,6 Nguồn: FAOSTAT/FAO Statistics - năm 2018 [31] Năm 2012 diện tích cam của toàn thế giới là 3945,0 nghìn ha, năng suất đạt 178,3 tấn/ha, sản lượng đạt 70352,7 nghìn tấn. Đến năm 2016, các chỉ tiêu đều tăng và đạt: diện tích là 3965,3 nghìn ha, năng suất đạt 184,6 tấn/ha và sản lượng đạt 73187,6 nghìn tấn.
Vùng châu Mỹ: các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mêxico, CuBa, Costarica, Braxin, Achentina. tuy vùng cam châu Mỹ được hình thành muộn hơn so với vùng khác, song do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhu cầu đòi hỏi của nền công nghiệp Hoa Kỳ đã thúc đẩy ngành trồng cam ở đây phát triển rất mạnh. Tuy diện tích đứng thứ 2 thế giới và có xu hướng giảm từ 1618,4 nghìn ha năm 2012 còn 1506,4 nghìn ha năm 2016, nhưng năng suất và sản lượng của châu Mỹ lại đứng đầu thế giới với năng suất 207,5 tấn/ha năm 2016 và sản lượng đạt 31259,8 nghìn tấn năm 2016. Vùng châu Á được khẳng định là quê hương của cam, hầu hết các nước châu Á đều sản xuất cam với diện tích lớn trong đó phải kể đến Trung Quốc, Việt Nam, e 8 Thái Lan…So sánh về diện tích của 5 châu lục năm 2016, Châu Á có tổng diện tích lớn nhất là 1657,1 nghìn ha tuy nhiên do chưa áp dụng được tiến bộ về khoa học kỹ thuật, chất lượng giống thấp nên năng suất của châu Á lại đạt mức thấp nhất, năm 2016 năng suất của châu Á là 158,8 tấn/ha thấp hơn thế giới 25,8 tấn/ha.
Nhìn chung diện tích, năng suất và sản lượng của châu Á đều có xu hướng tăng cụ thể như sau: Diện tích từ năm 2012 đến năm 2016 tăng từ 1549,4 nghìn ha lên 1657,1 nghìn ha, năng suất tăng từ 137,2 tấn/ha năm 2012 lên 158,8 tấn/ha năm 2016, sản lượng cũng tăng từ 21262,5 nghìn tấn năm 2012 tăng lên 26319,4 nghìn tấn năm 2016. Châu Âu có diện tích,năng suất và sản lượng có sự biến động qua các năm: Diện tích từ 293,5 nghìn ha ở năm 2012 tăng lên 296,9 nghìn ha ở năm 2013, sau đó lại giảm xuống còn 281,5 nghìn ha năm 2014, tiếp đó lại tăng lên 302,4 nghìn ha năm 2015 và cuối cùng giảm xuống 297,9 nghìn ha năm 2016. Năng suất tăng từ 197,5 tấn/ha năm 2012 lên 219,8 tấn/ha lên năm 2014, sau đó lại giảm xuống còn 197,3 tấn/ha năm 2016. Sản lượng tăng từ 5794,9 nghìn tấn năm 2012 lên 6231,2 nghìn tấn năm 2013 sau đó giảm cuống còn 5876,5 nghìn tấn năm 2016.
Vùng lãnh thổ châu Phi: Diện tích, năng suất và sản lượng có sự biến đông nhẹ qua các năm. Diện tích là 482,3 nghìn ha năm 2016, năng suất là 193,3 tấn/ha năm 2016 và sản lượng đạt 9322,8 nghìn tấn năm 2016. Châu Đại Dương do khó khăn về đất đai nên diện tích và sản lượng thấp nhất, cụ thể như sau: diện tích năm 2016 là 21,6 nghìn ha, năng suất đạt 189,6 tấn/ha, sản lượng đạt 409,0 nghìn tấn. Tình hình sản xuất cam trong nước Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, thích hợp với nhiều loại cây trồng trong đó có các loại cây ăn quả, đặc biệt là các loại cam.