CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nhiệt điện than 1. Tổng quan về sự phát triển của nhiệt điện than trên thế giới và tại Việt Nam 1. Sự phát triển của nhiệt điện than trên thế giới Cho đến nay nhiệt điện than đã và đang giữ vai trò chính trong sản lượng điện của thế giới và của nhiều nước.
Hiện tại nhiệt điện than có mặt ở 77 nước (vào năm 2000 con số này là 65), 13 nước khác đang có kế hoạch phát triển nhiệt điện than. Công suất đã tăng gần gấp đôi trong giai đoạn 2000÷2017 từ 1.063GW lên đến 1. Ba nước có tổng công suất nhiệt điện than lớn nhất thế giới là Trung Quốc: 935GW, Hoa Kỳ: 279GW và Ấn Độ: 215GW, tiếp theo là: Liên Bang Đức: 50GW, Nhật Bản: 44,5GW, Nam Phi: 41,3GW, Hàn Quốc: 38GW, Ba Lan: 29GW và Indonesia: 28,6GW. Theo dự báo của IEA trong giai đoạn 2015-2040, tổng công suất nhiệt điện than trên thế giới sẽ tăng thêm 947GW, trong đó khối OECD tăng 97GW, ngoài OECD tăng 850GW, riêng Trung Quốc 383GW và Ấn Độ 306GW.
Việc phát triển nhiệt điện than của từng nước tùy thuộc vào tiềm năng tài nguyên than sẵn có trong nước và khả năng tiếp cận nguồn than từ bên ngoài. Nhìn chung, các nước châu Á-Thái Bình Dương vẫn tăng cường phát triển nhiệt điện than. Một số nước giảm nhiệt điện than là do cạn kiệt nguồn than trong nước, hoặc do có các nguồn tài nguyên năng lượng khác tốt hơn thay thế, đặc biệt do mức độ phát thải đã quá cao nên cần phải giảm. Dự báo sản lượng điện than trên thế giới giai đoạn 2020÷2040 (ngàn tỷ kWh) Sản xuất Khu vực 2020 2025 2030 2035 2040 điện Các nước OECD Tổng 11,3 12 12,6 13,3 14,2 (Mỹ, Anh, Pháp, Ý, Điện than 3,4 3,4 3,3 3,3 3,3 10 Sản xuất Khu vực 2020 2025 2030 2035 2040 điện Hà Lan, Bồ Đào Tỷ lệ điện Nha, Áo, Ai-len, Đan than 28,33% 26,19% 24,81% 23,24% 28,33% Mạch, Thụy Điển, Phần Lan v.) Các nước ngoài Tổng 14,4 16,4 18,2 20,2 22,3 OECD (Trung Quốc, Điện than 6,3 6,7 6,8 7,0 7,3 Ấn Độ, ASEAN, Nam Phi, Thổ Nhĩ Tỷ lệ điện 40,85% 37,36% 34,65% 32,74% 40,85% Kỳ, Bangladesh, than Pakistan.
Sự phát triển của nhiệt điện than tại Việt Nam a) Thời kỳ trước năm 1975 Nhà máy nhiệt điện than đầu tiên của Việt Nam là Nhà đèn Vườn hoa, được người Pháp xây dựng tháng 2/1894 tại Hải Phòng. Tiếp đó, tại khu vực Bắc Bộ và Trung Bộ, các nhà máy nhỏ với quy mô không quá 10 MW, thông số hơi thấp lần lượt được xây dựng. Tới tháng 10/1954, tổng công suất nguồn điện miền Bắc chỉ khoảng 31,5 MW với sản lượng điện khoảng 53 triệu kWh/năm. Để đáp ứng nhu cầu điện năng, cùng với việc sửa chữa, cải tạo, nâng cấp các nhà máy điện do Pháp để lại, trong các năm 1955 - 1960, Việt Nam đã khởi công xây dựng và đưa vào vận hành một số nhà máy nhiệt điện than mới có công suất nhỏ và vừa, thông số hơi trung áp (áp suất/nhiệt độ đến 3,43 MPa (35 bar)/435oC), công nghệ lò ghi xích và lò than phun.
Năm 1961, với sự giúp đỡ của Liên Xô, Việt Nam khởi công xây dựng nhà máy nhiệt điện Uông Bí - nguồn điện chủ lực của miền Bắc. Bên cạnh đó, Nhà máy Nhiệt điện Ninh Bình công suất 100 MW do Trung Quốc giúp đỡ cũng được đưa vào 11 vận hành từ 1974. Đây là những nhà máy điện than có công suất lên tới hàng trăm MW đầu tiên do Việt Nam đầu tư xây dựng. Tuy nhiên, trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ, các nhà máy điện luôn là trọng điểm bắn phá của máy bay Mỹ.