Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 1. Khối lượng thể tích 1. Khái niệm Để đánh giá lượng thực chất gỗ có trong một đơn vị thể tích người ta dùng khái niệm khối lượng thể tích.
Khối lượng thể tích của gỗ là tỉ số giữa khối lượng gỗ trên một đơn vị thể tích gỗ (Lê Xuân Tình, 1998). = (g/cm3) hoặc (kg/cm3) Căn cứ vào khối lượng thể tích có thể đánh giá được một phần cường độ và giá trị công nghệ của gỗ. Nghiên cứu khối lượng thể tích của gỗ là một vấn đề quan trọng và cần thiết. Tùy theo lượng nước chứa trong gỗ nhiều ít khác nhau mà có 4 khái niệm về khối lượng thể tích thường gọi.
- Khối lượng thể tích cơ bản (điều kiện) là tỷ số giữa khối lượng gỗ khô kiệt và thể tích gỗ tươi (độ ẩm của gỗ trên điểm bão hòa thớ gỗ) (Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Văn Thái, 2014). = ( / ) - Khối lượng thể tích gỗ tươi là tỷ số giữa khối lượng gỗ tươi và thể tích gỗ tươi. = ( / ) - Khối lượng thể tích gỗ tươi là tỷ số giữa khối lượng khô và thể tích gỗ khô. Tùy theo điều kiện khí hậu mỗi nơi khác nhau mà độ ẩm thăng bằng cao hay thấp.
Nhưng nói chung không thể lớn hơn 30% (Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Văn Thái, 2014). Phương pháp xác định khối lượng thể tích Tùy theo cách xác định thể tích mà có 4 phương pháp xác định khối lượng thể tích. Phương pháp cân đo: Đây là phương pháp thường dùng và chính xác nhất. Mẫu gỗ thí nghiệm có kích thước 2 x 2 x 3cm (kích thước lớn nhất theo chiều dọc thớ).
Dùng thước kẹp hoặc thước pan – me 3 chiều chính xác đến 0,01 mm và cân đối khối lượng mẫu gỗ chính xác đến 0,01 g. Tính khối lượng thể tích theo công thức : = (g/cm3) Trong đó: – khối lượng thể tích m - là khối lượng gỗ (g) v là thể tích mẫu gỗ (cm3) Ngoài ra còn có phương pháp nhúng nước, phương pháp dùng thể tích thủy ngân, phương pháp thủ công (Lê Xuân Tình, 1998). Các nhân tố ảnh hưởng tới khối lượng thể tích gỗ • Loài cây Do các loại cây có cấu tạo khác nhau nên khối lượng thể tích cũng không giống nhau. Sự chênh lệch này chủ yếu là do độ rỗng của gỗ nhiều hay ít.
Độ rộng càng lớn thì khối lượng thể tích càng bé và ngược lại độ rỗng càng bé thì khối lượng thể tích càng lớn. m 7 Ngoài ra, do chất chứa trong ruột tế bào càng nhiều, khối lượng thể tích càng lớn, nên nói chung gỗ lõi nặng hơn gỗ dác (Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Văn Thái, 2014). • Tỷ lệ gỗ sởm - gỗ muộn Đối với các loại gỗ có gỗ sớm gỗ muộn phân biệt thì tỷ lệ gỗ muộn nhiều hay ít có ảnh hưởng lớn đến khối lượng thể tích của gỗ. Tỷ lệ gỗ muộn nhiều khối lượng thể tích lớn.
Ngược lại tỷ lệ gỗ muộn ít khối lượng thể tích thấp (Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Văn Thái, 2014). • Độ ẩm Nước trong gỗ nhiều hay ít là nhân tố ảnh hưởng lớn đến khối lượng thể tích của gỗ. Gỗ chứa nhiều nước, khối lượng thể tích cao, chứa ít nước khối lượng thể tích thấp. Căn cứ vào công thức xác định khối lượng thể tích ta phân tích sự thay đổi độ ẩm gỗ: - Khi độ ẩm giảm từ cao đến độ ẩm bão hoà (30%), lúc này khối lượng m của gỗ sẽ giảm xuống, nhưng thể tích của gỗ là không thay đổi.
Do đó khối lượng thể tích của gỗ sẽ giảm xuống nhanh. - Khi độ ẩm giảm từ độ ẩm bão hoà xuống độ ẩm khô kiệt (30 – 0%): lúc này khối lượng của gỗ tiếp tục giảm xuống, tuy nhiên thể tích của gỗ cũng giảm xuống. Nhưng qua thí nghiệm ta thấy khối lượng m của gỗ giảm nhanh hơn. Do vậy, khối lượng thể tích của gỗ giảm chậm.
- Khi độ ẩm tăng từ 0- 30%: lúc này khối lượng của gỗ tiếp tăng lên, tuy nhiên thể tích của gỗ cũng tăng lên. Nhưng qua thí nghiệm ta thấy khối lượng m của gỗ tăng nhanh hơn. Do vậy, khối lượng thể tích của gỗ tăng chậm. - Khi độ ẩm tăng từ 30% đến cao: lúc này khối lượng m của gỗ sẽ tăng lên, nhưng thể tích gỗ là không thay đổi.
Do đó khối lượng thể tích của gỗ sẽ tăng lên nhanh (Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Văn Thái, 2014). • Vị trí khác nhau trong thân cây m 8 - Ở các vị trí khác nhau trong thân cây, khối lượng thể tích cũng khác nhau. Nói chung gỗ ở phần gốc có khối lượng thể tích cao nhất, giữa thân là trung bình và gần ngọn là thấp nhất. Chênh lệch giữa gốc và ngọn đến gần 25%.
- Gần tuỷ và gần vỏ khối lượng thể tích bé. Khối lượng thể tích gỗ lõi lớn hơn ở gỗ giác (Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Văn Thái, 2014). • Vòng tăng trưởng hàng năm - Đối với gỗ mạch xếp vòng cây lá rộng: vòng năm trưởng hàng năm càng lớn có khối lượng thể tích càng lớn, vì vòng năm rộng gỗ muộn nhiều. - Với gỗ cây lá kim thì ngược lại, vòng năm càng hẹp khối lượng thể tích càng cao vì gỗ cây lá kim vòng năm càng rộng gỗ muộn càng ít.
- Đối với gỗ lá rộng mạch phân tán - vòng năm rộng thì tỷ lệ gỗ sớm và gỗ muộn không thay đổi nên khối lượng thể tích không thay đổi (Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Văn Thái, 2014). Tính chất cơ học của gỗ 1.1 Khái niệm cơ bản về tính chất cơ học • Ứng lực Khi bị lực bên ngoài tác dụng, gỗ sẽ biến dạng. Các phần tử cấu tạo bên gỗ sẽ sản sinh nội lực chống chịu lại, đó là ứng lực. Ký hiệu P đơn vị N hoặc Kgf.
Ứng lực có tác dụng chống lại lực phá hoại từ bên ngoài, đồng thời có tác dụng khôi phục lại hình dạng và kích thước cũ của vật. Ứng lực bằng ngoại lực về trị số nhưng ngược chiều (Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Văn Thái, 2014). • Ứng suất Để đánh giá khả năng chịu lực của vật liệu và để so sánh cường độ của các loại vật liệu khác nhau, người ta dùng ứng suất (Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Văn Thái, 2014). Ứng suất là ứng lực sản sinh trên một đơn vị diện tích chịu lực.
Ứng suất đơn giản được tính theo công thức sau. m 9 = , / Trong đó: – lực bên ngoài tác dụng, tính bằng niutơn (N). F – diện tích chịu lực (m ) • Biến dạng Sau khi bị ngoại lực tác dụng, gỗ ít nhiều thay đổi về hình ở nước. Hiện tượng ấy gọi là sự biến dạng (Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Văn Thái, 2014).
Biến dạng tuyệt đối Biến dạng thường biểu thị bằng độ tăng giảm dài tuyệt đối (∆l) gọi 1à biến dạng tuyệt đối. Biến dạng tương đối Chỉ độ tăng giảm dài tương đối – gọi là biến dạng tương đối ( ) ∆ = ∆l: - độ tăng giảm dài tuyệt đối (cm) 1: - chiều dài của vật (cm) Biến dạng đàn hồi Biến dạng đàn hồi do xenlulo có cấu trúc định hình và là thành phần chủ yếu sản sinh ra nội lực của gỗ (ứng lực có trị số lớn nhất). Biến dạng vĩnh cửu Biến dạng vĩnh cửu là do linhin có cấu trúc vô định hình và là thành phần chủ yếu sản sinh ra nội lực có trị số thấp. Các tính chất cơ học của gỗ Tùy theo phương thức tác dụng của ngoại lực, chiều thớ của gỗ và nội lực sản sinh trong gỗ, người ta chia các ứng lực thành 3 nhóm chính: Các ứng lực đơn giảm, các ứng lực phức tạp, các ứng lực có tính chất công nghệ.
Tuy nhiên trong nghiên cứu này chỉ nghiên cứu ở các ứng lực phức tạp cụ thể là sức chịu uốn tĩnh. Sức chịu uốn tĩnh: m 10 - Dầm (xà) trong các kết cấu gỗ thường do lực uốn làm biến dạng. Có thể nói sức chịu uốn tĩnh là chỉ tiêu quan trọng thứ 2 sau lực ép dọc thớ. - Để đánh giá cường độ gỗ thường lấy tổng số hai ứng suất: ép dọc thớ và uốn tĩnh làm tiêu chuẩn.
- Khi bị uốn cong, phần gỗ chịu ép biến dạng nhiều hơn phần gỗ chịu kéo. Vì trong gỗ ứng suất kéo dọc thớ lớn gấp 2 - 3 lần ứng suất ép dọc thớ. Do đó mặt trung hòa chuyển dịch về phía chịu kéo (Lê Xuân Tình, 1998). - Mẫu thử nghiệm có kích thước 20 × 20 × 300 mm, kích thước lớn nhất theo chiều dọc thớ.
- Mẫu gỗ đặt trên 2 gối tựa tròn cố định, bán kính cong của gối là 15 mm. Cự ly 2 gối là 240 mm. Khoảng cách giữa 2 điểm đặt lực P/2 là 80 mm, hoặc tại điểm giữa của dầm (P). Tốc độ tăng lực là 7000±1500N/ph (Lê Xuân Tình, 1998).
- Các loại gỗ lá rộng qui định hướng tác động của lực theo chiều tiếp tuyến. Các loại gỗ lá kim thí nghiệm cả 2 hướng. - Ứng suất uốn tĩnh tính theo công thức: !" # Nếu 2 điểm đặc lực: = (N/m2) $%& !" # Nếu 1 điểm đặt lực: = (N/m2) $%& Trong đó: Pmax là lực phá hoại (N); l cự ly hai gối (m); b và h là bề rộng và chiều cao của mẫu (m); Hệ số điều chỉnh độ ẩm α = 0,04. Xác định mô đun đàn hồi uốn tĩnh (MOE) Thí nghiệm xác định mô đun đàn hồi dùng mẫu có hình dạng và kích thước, bố trí như lực uốn tính.
Mỗi mẫu thử, cho lực lặp lại 6 lần. Mỗi lần tác động từ 200 ÷ 600N. Tốc độ tăng lực là 5000 ± 1000N/ph. Đọc số trên đồng m 11 hồ đo biến hình ngay sau mỗi lần tăng lực.
Lấy trị số bình quân biến dạng của 3 lần tăng lực cuối cùng (Lê Xuân Tình, 1998). Tính mô đun đàn hồi theo công thức sau, chính xác đến 108N/m2: (#) MO' = (N/m2) cho 2 điểm đặt lực * +$%) , * ( .) MO' = (N/m2) cho 1 điểm đặt lực /$%) , Trong đó: l cự ly hai gối (m); b và h là bề rộng và chiều cao của mẫu (m); f là độ võng; P’ = 600 – 200N = 400N hoặc P’ = 400 – 200N = 200N. Sức chịu uốn va đập - Về khả năng chịu uốn va đập của gỗ có rất nhiều loại. hiện nay thường chỉ xác định sức chịu uốn xung kích.
Sức chịu uốn xung kích được dùng làm chỉ tiêu đánh giá độ giòn hay độ dẻo của gỗ.