CHƯƠNG 1 : TONG QUAN VE ĐÊ SÔNG VA ON ĐỊNH DE SÔNG 1. Tình hình đê sông trên thé giới và ở Việt Nam 1.Tình hình đồ sông trên thế giới Trên thể giới, ngay từ thiên niên kỹ thứ nhất trước công nguyên, cư dân văn mình thung lũng Indus đã đắp những con để đầu tiên rồi. Mỗi vùng đất, ủy theo dia hình và tập quản din tộc, khả năng và điều kiện khoa học kỹ thuật ring biệt mà người ta xây dựng dé bằng nhiều hình thức khác nhau. 6 Nhật Bản dang có kế hoạch xây dựng nâng cắp các để sông thành để an toàn cao, lợi dụng tổng hợp va thân thiện với môi trường.
Khái niệm để an toàn cao được người Nhật áp dụng là để sông với b rộng đủ lớn để ngăn chin được sự cổ vỡ 48 và hận quả của nó Chân dé phía trong có thể mở rộng ra tới 20 đến 30 lần chiễu cao đề (tương đương hệ số mái dốc 1/30 đến 1/20). Để sông an toàn cao làm giảm nguy cơ vỡ để vàn ất 6n định mái trong do dòng thắm. Ngay cả khi bị nước lũ tràn qua thì dòng. chảy cũng bị chim lại dọc theo mái đẻ, giảm khả năng gây xói và vỡ để.
Với mặt cắt ngang rộng và mái thoải thì cơ sở hạ ting và đường giao thông phục vụ dân sinh số thể kết hợp xây dug trên định đề và doe theo mái trong của đề, Tuy nhiên thin 4 và nền để phải được gia cổ và xử ý ốt để có đảm bảo ôn định ngay cả trong điều kiện bị nước lũ trần qua. Tình hình để song ở Việt Nam Nước ta có 14 hệ thống sông chính là : Sông Bằng Giang va Kỳ Củng, Sông Hồng và Thai Bình, Sông Vu Gia - Thu Bồn, Sông Tri Khúc, Sông Kén, Sông Ba, Sông Sêsan, Sông Srepok, Sông Đẳng Nai, Sông Cửu Long. Hàng năm, chúng ta đã khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước vô cùng lớn từ cúc bệ thống sông để phục vụ cho đồi ống và phát erin nền kinh , Bên cạnh những mặt có lợi, thì lũ lụ hằng năm đã gây ra những thiệt hại rất lớn về người và tải sản. Nha nước đã cho xây dig rit nhiều các công trinh phàng chống lũ nhằm khắc phục, giảm nhẹ thiên i do lũ lụt gây ra Véi miễn Bắc nước ta, hẳu hết các sông đều có đê, hệ thống dé sông Hồng là lớn nhất cả về quy mô và kỹ thuật xây dựng, tong chiễu dài toàn hệ thông lên tới 1 314km.
Đây cũng là một ong những hệ thống dé lớn nhất, đi nhất thể giới. Nó xứng đáng được công nhận là di sản văn hóa quốc gia và quốc tế. Để cổ hai dạng được hình thành là do tr nhiễn và nhân tạo. Để tự nhiền được hình thành bởi sự lắng dong của các trim tích trong sông, khi dòng nước này trần «qua bờ sông, Khi trần qua bổ, vận tốc đồng nước giảm làm cá vat liệu rong đồng nước lắng đọng theo thời gian mà cao dẫn, cao đến mức hơn bé mặt của vùng đắt bị lụt, Còn đề nhân tạo là do con người xây dụng lên cốt để ngăn nước tràn gây ngập lụt, Đề nhân tạo có để là loại vinh cửu, nhưng cũng có để là loại tạm thời ở các vùng đất đối với những trường hợp khẩn cấp.
Đối với Việt Nam bởi địa hình đặc biệt có bờ biển dai dọc theo lãnh thổ, sông rit nhiều, trong đó có những con sông quốc tế đến Việt Nam là điểm hạ lưu. cuối cùng như sông Hồng, sông Đà, song Cửu Long. nên việc phải xây dưng để để ngăn nước ngập lụt là điều tắt yêu và đương nhiên cũng phải bén vững, quy mô hơn so với dé của các nước trên thé giới Để ở Việt Nam phổ biến nhất là ở miễn Bắc và chủ yế là dọc hai bên bờ sông Hồng, sông Mã, sông Lam. Ngoài con đẻ chính thường lui sâu hơn vio trong đất liền, có khi còn dip thêm những con dé phụ gọi là dé quai hoặc con trạch dé phòng khi đề chính bị vỡ thi còn cứu được phần ruộng đất nơi xa sông khỏi bj ngập lụt Lịch sử xây dựng đê ở nước ta : đưới thời nha Lý, tháng 3 nấm Mậu Tỷ (1108), con 48 đầu tiên được dip ở phường Cơ Xã với mục đích bảo về thành Thăng Long khỏi bị nước sông Hồng trin ngập, Dén đời nhà Trần, để được đắp ở nhiễu noi cất giữ không cho nước sông trần vào để kip lim vụ chiêm, sau khỉ mia mảng thu hoạch xong thì lại cho nước tự do tràn vào đồng ruộng.
Hệ thống để sông đồng bằng sông Hồng Dé sông ở đồng bằng sông Hồng bao gồm hệ thông dé sông Hồng, sông Thái Bình với ch dài gin 2400 km: trong đỏ dé thuộc hệ thing sông Lồng 1580 km, 4 hệ thống sông Thái Bình 750 km, nhìn chung đến nay hệ thống để có chiều cao phố biến từ 6 = mết, cổ nơi chiễu cao tới 11 mét 1.2 Hệ thông để sông miễn Trung Tổng chiều dai đê sông khu vực Bắc trung bộ là 381,47km, trong đó chiều dài để thuộc hệ thông sông Mã, sông Chu là 316,tkm; chiễu dai dé thuộc hệ thống sông Cả, sông La là 65,4km, Đặc biệt quan trong là ác tuyển để thuộc hệ thông sông Mã, sông Cả, là hai hệ thing sông lớn ở Bắc trung bộ nhưng hiện tại thượng nguồn của hai hệ thống sông này chưa có hỗ chứa để tham gia điều it lũ, vì vậy đê là biện pháp công trình duy nhất và có ý nghĩa đặc biệt quan trong trong chống. Hiện tại trên hai hệ thống sông nay khá cao, mái dốc chưa có cơ, thin để côn nhiều khuyết tật, nền dé nhiều đoạn là nền cát hoặc bùn, nhiều đoạn dé sát sông, lũ lên nhanh và xuống nhanh là yêu tổ bit lợi đổi với đểđiễu. Với tông chiều dai 1.314km, thuộc loại lớn nhất, đài nhất thé giới, hệ thống đê. sông Hồng được xây dựng với mục dich để chứa nước và tới tiêu cho vùng châu thổ giảu lúa gạo, đồng thời cũng để thio nước khi bị lục.
Hệ thống để này sau nhiều thể hệ đã gớp phần duy tri mật độ dân số cao ở đồng bing và làm tăng gắp đôi diện tich có thé canh tác lúa nước ở diy. Qua nhiễu th kỷ, việc phòng lạt qua hệ thống đề đã trở thành một công việc gắn lién với văn hóa và kinh tế của din tộc, 1. Vấn dé 6n định đê khi mực nước rút 1. Một số sự cổ sại lở bờ sông trong thời gian gn đây Các thiết kế hiện nay chưa đỀ cập nhiều đến vin đề này, đặc biệt a cách xác định chỉ tiêu cơ lý của đất.
Khi xác định độ đốc mái thượng lưu chủ yếu theo định tính lấy độ dốc thoải hơn mái hạ lưu. Việc đánh giá một cách chỉ tit các khả năng rút nước có thé xây ra, c độ rút nước tối đa để sử dụng trong tính toán ổn định mái thượng lưu chưa được quan tâm đúng mức. Ít có các nghiên cứu đánh gi các hiện tượng hư hỏng mà nguyên nhân là do mực nước rút gây ra. Trong những năm gần đây, thiên tai diễn én ngày càng phức tạp, lũ lớn ở miễn.
Bắc năm 1996; mưa bão tập trung ở miền Trung năm 1999; thể hiện rõ bất thường của thời tiết. Mặt khác, việc khai thác gỗ của rừng đầu nguồn đã làm lũ tập trung trên các sông nhanh hơn, đường mực nước cling dâng cao hơn cũng một cắp lưu lượng, Các nghiên cứu gần đây, tại Hà Nội mực nước tương ứng đều nâng lên khoảng 60-70 em, vùng cửa sông được nỗi dai và bồi lắng đã làm thay đổi lớn ảnh hưởng đến mục nước lũ vũng cửa s ing ngày cảng ning cao. Hồ Hoà Bình từ khi dua vào vận hành cắt lũ đã phát huy tác dụng rõ rệt nhưng cũng mới ở mức cắt lũ thường xuyên, chưa gặp tỉnh thé cit lũ lớn. Việc thay đổi dòng chảy do tác động của điều tiết hỗ Hoà Bình cũng kéo theo sự thay đôi lớn các động thai dong chảy.
Trên hệ thông để sông Đuống thuộc địa bin Hà Nội tai vị tí cầu Đuống đã có hiện tượng sat lở đề nghiêm trọng vào ngày 13/08/2005 làm sập nhiều nhà dân. Đặc biệt hiện tượng ạt lỡ chân để Đà Giang trên sông Đà từ đoạn KO đến K0+905 đã diễn ra hết sứ re nghiêm trong, Nguyên nhân sạt lở như sau Do xây dựng cầu phao qua sông Đà, mổ cầu lin sâu xuống sông đã tạo thnh mỏ hàn lớn khi xà lũ có lưu tốc lớn đã sinh ra dng xoây quin phía hạ ưu mé cầu pháo Do việc điều tiết xã lũ hỗ Hoa bình thất thường làm cho mực nước ở hạ lưu nhà máy khu vực thị xã Hoà Bình thoy đối đột ngột. Trên bệ thống sông Hing, sông “Thái Binh hiện trang x6i lở bở và các kẻ trọng điểm uy hiếp đến an toàn của để là quan tâm, quá trình diễn biển x6i bờ tại khu vục kẻ Hợp Hải, Tiên Cát thuộc bờ tả sông Thao, xéi gây sat lờ bờ khu vực Tu Vũ thuộc bờ tả sông Đà tỉnh Phú Thọ; xói lở nghiêm trong vùng bãi Trung Hà, Thạch. Đà - Hoàng Kim và bắt đầu diễn biển xéi lờ khu vực đầu kề Thanh Diễm thuộc bờ tả sông Hồng tinh Vinh Phúc; Sot Io tại kề Tinh Quang hữu sông Bung, xói mạnh ke Đẳng Viê kè Thi Phương tà ông Đuống thuộc dia phận Hà Nội, xa ké Đức Tái, kè Ngăm Lương, kè A Lữ hữu sông Duồng tinh Bắc Ninh; x6i lỡ với qui mô lớn gây sat ké Hàm Tử tại khu vực bở cong lồm sát đề tả Hang h Hung yên; xói kè Nhật Tảo thuộc tuyển dé tả sông Hồng huyện Hưng Ha - Thái Bình; xói bờ gây sat kè Chu Minh, kè Phương Độ, kè Cẩm Đình, kè Xam Thị, kè Quán các thuộc tuyển dé hữu sông Hồng tinh Hà Tây: xói lở nghiêm trong tại các kẻ Yên Ninh, Chương Xá, Nhu Trác thuộc tuyển dé hữu sông.
a) Sat lở bờ hữu sông Hằng thuộc xã Phong Vân, huyện Ba Vì, tinh Hà Tay Bãi ng Khu vực xã Phong Van, huyện Ba Vì tương ứng từ KOHOSO đến K3+500 để hữu sông Hỗng bất đầu có hiện tượng sạ lỡ từ đầu tháng 9/2003. Sat lờ tiếp tục diễn biến mạnh trong thing 10 và cung trượt cách chân để chi còn ấm, các vết nứt rộng từ 30cm đến 50em, dai từ 70m đến 100m.