Mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục và 3 chƣơng: e 3 Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu. Chƣơng 2: Đối tƣợng, nội dung, phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận. e 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tình hình chăn nuôi bồ câu trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình chăn nuôi bồ câu trên thế giới Từ xƣa, phong trào nuôi bồ câu đã đƣợc ngƣời cổ đại chú trọng. Những phát hiện mới nhất cho thấy cách đây sáu ngàn năm, ngƣời Ai cập cổ đã khắc vẽ bên vách Kim Tự Tháp nhiều hình tƣợng cho thấy vào thời đó ngƣời dân đã biết nuôi bồ câu. Cũng nhiều tài liệu cho thấy hàng ngàn năm trƣớc Công nguyên, ngƣời Ai Cập, Hy Lạp, La Mã đã biết nuôi lấy thịt và huấn luyện bồ câu đƣa thƣ.
Trên thế giới, bên cạnh việc chăn nuôi các động vật nông nghiệp truyền thống, chăn nuôi bồ câu đã đƣợc biết đến từ rất lâu. Bồ câu là loài chim khá phổ biến, sống ở hầu hết các thành phố trên thế giới. Tại Châu Âu, chúng đƣợc xem là dân cƣ quen thuộc của thành phố, du khách và ngƣời yêu chim cho ăn hằng ngày nơi công cộng. Nhiều bầy chim lƣu trú và làm tổ ở các cao ốc, rồi bay đi kiếm ăn ở các vùng quê lân cận.
Bồ câu là loài ăn hạt, chúng tìm ăn ngũ cốc rơi vãi trên cánh đồng, sân phơi, đƣờng đi…Tại các thành phố, chúng chấp nhận cả bánh mì và những thức ăn khác do các du khách và cƣ dân thành phố cung cấp. Tại Đông Nam Á, những đàn bồ câu thƣờng có chủ, chúng đƣợc nuôi thả vì mục đích lấy thịt kết hợp làm cảnh. Hiện nay trên thế giới các nhà điểu học đã lai tạo ra nhiều nòi bồ câu vừa lạ vừa đẹp, có những đặc tính ƣu việt về trọng lƣợng, vóc dáng, màu lông, khả năng sinh sản tốt và có sức chịu đựng cao mọi loại thời tiết, khí hậu. Hiện nay, bồ câu đƣợc nuôi vào nhiều mục đích khác nhau nhƣ đua chim, lấy thịt, làm cảnh.
Ở Châu Âu, Châu Mỹ trong mấy thế kỷ qua, các nhà khoa học đã không ngớt nghiên cứu và thử nghiệm lai tạo ra nhiều nòi bồ câu mới, và nhiều nƣớc e 5 đã phát triển nghề chăn nuôi bồ câu theo quy mô công nghiệp, chứ không nuôi nhỏ lẻ nhƣ trƣớc đây. Tại Châu Úc, Canada, Đức, Pháp đã thực hiện nhiều trang trại bồ câu lớn đến hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn cặp chim. Trong đó,Trại Euro Pigeon của Pháp nổi tiếng bề thế. Tại Châu Á, các nƣớc lân cận nhƣ Mã Lai, Singapore, Thái lan đã phát triển nghề chăn nuôi này theo quy mô công nghiệp.
Ở Bangkok-Thái Lan có các trang trại nuôi nhiều giống quý hiếm để tung ra thị trƣờng trên thế giới nhƣ Chor Nokenoi, Bird Land Col Ltd, Leam Thon Poultry Co Ltd. Chim bồ câu đƣợc ăn thịt phổ biến nhất là khi chúng vừa “ra ràng” (tên tiếng Anh là squab). Trong thuật ngữ ẩm thực, chim “ra ràng” là bồ câu non khoảng một tháng tuổi, nó đã đạt tới kích cỡ gần trƣởng thành. Trong quá khứ, chim “ra ràng” hoặc chim bồ câu các loại nói chung đã đƣợc tiêu thụ tại nhiều quốc gia văn minh cổ đại, bao gồm Ai Cập, Ý và Mediver… Thời đó, ngƣời ta đã săn bắn chim bồ câu làm thức ăn cung cấp prôtêin có giá rẻ.
Chim “ra ràng” rất dễ bắt để làm thịt khi chúng còn non, chƣa đủ lông để bay khỏi tổ, cũng vào thời gian đó đã có một số nông dân nuôi chim sinh sản để sản xuất ra chim non ăn thịt. Gần đây, chim “ra ràng” đƣợc sản xuất hoàn toàn từ các trang trại lớn ở nhiều quốc gia thuộc khu vực Bắc Phi, Trung đông, một số nƣớc Châu Âu, nhiều nƣớc Bắc Mỹ…trong đó, ngƣời ta chăn nuôi các giống chim thịt. Ở Hoa Kỳ, có trại nuôi đến 35 000 đôi chim. Ở Ai Cập, nuôi từ 3000 - 5000 đôi chim bồ câu là quy mô tƣơng đối phổ biến trong cả nƣớc.
Tình hình chăn nuôi chim bồ câu ở Việt Nam Trƣớc kia quy mô chăn nuôi chim bồ câu phổ biến ở nƣớc ta là nuôi từ vài cặp tới vài trăm con, kết hợp vừa giải trí, vừa có chim bồ câu “ra ràng” ăn thịt. Bất cứ nơi nào, từ thành thị tới thôn quê, đâu đâu ta cũng thấy những cánh chim bồ câu bay lƣợn. e 6 Ngày 16 tháng 01 năm 2008, Chính phủ đã có Quyết định số 10/2008/QĐ - TTg về chiến lƣợc phát triển chăn nuôi đến năm 2020. Theo quyết định đó, từ năm 2010 và 2015, mức tăng trƣởng bình quân: giai đoạn 2008 - 2010 đạt khoảng 8 - 9% năm; giai đoạn 2010 - 2015 đạt khoảng 6 - 7% năm và giai đoạn 2015 - 2020 đạt khoảng 5 - 6% năm; Sản lƣợng thịt xẻ các loại: năm 2010 đạt khoảng 3.200 ngàn tấn, trong đó: thịt lợn chiếm 68%, thịt gia cầm chiếm 27%, thịt bò chiếm 3%; Năm 2015 đạt khoảng 4.300 ngàn tấn, trong đó: thịt lợn 65%, thịt gia cầm 31%, thịt bò 3%; đến năm 2020 đạt khoảng 5.500 ngàn tấn, trong đó: thịt lợn 63%, thịt gia cầm 32%, thịt bò 4%; Sản lƣợng trứng, sữa: năm 2010 đạt khoảng 7 tỷ quả và 380 ngàn tấn; năm 2015: khoảng 11 tỷ quả và 700 ngàn tấn; đến năm 2020: khoảng 14 tỷ quả và trên 1.
Bình quân sản phẩm chăn nuôi/ngƣời: năm 2010 đạt: 36 kg thịt xẻ, 82 quả trứng, 4,3 kg sữa; năm 2015 đạt: 46 kg thịt xẻ, 116 quả trứng, 7,5 kg sữa và đến năm 2020 đạt trên 56 kg thịt xẻ, trên 140 quả trứng và trên 10 kg sữa. Tỷ trọng thịt đƣợc giết mổ, chế biến công nghiệp so với tổng sản lƣợng thịt năm 2010 đạt khoảng 15%; năm 2015 đạt 25% và đến năm 2020 đạt trên 40%. Với quyết định đó đã thúc đẩy ngành chăn nuôi gia cầm với nhiều mô hình và đối tƣợng nuôi khác nhau, trong đó có mô hình nuôi chim bồ câu thịt. Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ thịt chim bồ câu rất lớn, không đủ số lƣợng cung cấp cho thị trƣờng, do đó gần đây đã xuất hiện và phát triển hình thức chăn nuôi tập trung từ vài trăm tới cả ngàn con, mang lại lợi nhuận lớn.
Các giống chim bồ câu nhập nội, cùng những tiến bộ mới trong dinh dƣỡng, phòng dịch và quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dƣỡng, đang mang lại phong trào chăn nuôi bồ câu phát triển mạnh mẽ ở khắp các vùng miền trong cả nƣớc. Tháng 9/1996, Trung tâm nghiên cứu Gia cầm Thụy Phƣơng đã nhập e 7 nội dòng chim bồ câu Pháp, gọi tắt VN1. Đến tháng 5/1998 lại tiếp tục nhập tiếp hai dòng nữa là Titan và Mimas để khảo sát và nhân giống. Sau một thời gian, nhiều tỉnh thành trong cả nƣớc, phổ biến ở các tỉnh: Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Dƣơng, Thanh Hóa, Quảng Trị, Đắk Lắk, Bình Định,…đã nhân rộng và thành công trong việc nuôi thử nghiệm mô hình nuôi chim bồ câu làm kinh tế.
Điển hình một số nơi nuôi với số lƣợng lớn nhƣ trại giống Chim Bồ câu Pháp Tây Nguyên, Trại bồ câu Sáng Tạo (Bắc Giang). Tại Bình Định, đầu năm 2000 chim bồ câu Pháp đƣợc đƣa về Trung tâm Khoa học kỹ thuật vật nuôi Bình Định để nuôi thử nghiệm nhân giống. Đến nay, thì mô hình nuôi chim bồ câu Pháp làm kinh tế đã đƣợc nhân rộng trên hầu hết các huyện lỵ và thành phố của tỉnh nhƣ Quy Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Hoài Ân, Tuy Phƣớc, Vĩnh Thạnh. Hiện nay tại địa bàn Vĩnh Thạnh có 2 trang trại và nhiều nông hộ nuôi nuôi chim bồ câu làm kinh tế với quy mô từ 50 cặp đến 800 – 900 cặp, đã mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Nguồn gốc và vị trí phân loại 1. Nguồn gốc chim bồ câu Bồ câu thuộc nhóm chim bay (Carinatae), gồm 25 bộ, trong đó có bộ bồ câu Columbiformes gồm những loài chim đi chậm nhƣng bay rất khỏe nhƣ bồ câu, cu gáy. Gốc mỏ mềm, chúng ăn quả và hạt là chính. Loài chim bồ câu (Columba livia) thuộc bộ bồ câu (Columbiformes) có tổ tiên từ một loài bồ câu núi sống ở Châu Âu, Bắc Phi, một phần Châu Á, đã đƣợc thuần dƣỡng từ 30 thế kỉ trƣớc Công nguyên [12].
Loài này sống thành đàn, ƣa làm tổ trong hốc đá, gồm khoảng 450 giống. Dựa vào công dụng của chúng có thể phân bồ câu nhà thành 4 nhóm : Bồ câu đƣa thƣ (bay nhanh); bồ câu thể thao (có thể thực hiện nhiều kiểu bay lƣợn đặc biệt); bồ câu cảnh (hình thái cơ thể, bộ lông đặc biệt kì lạ hấp dẫn); bồ câu thịt (có khối e 8 lƣợng cơ thể lớn, cho lƣợng thịt gấp hai lần các nhóm kể trên ). Bồ câu nhà thuộc nhóm bồ câu thịt. Tùy tập quán từng nƣớc, từng vùng khí hậu sinh thái ngƣời ta nuôi nhiều nòi bồ câu có khối lƣợng và màu sắc khác nhau.Về khối lƣợng, thông thƣờng nặng khoảng 800 - 1000g (con trống), 600 - 900g (con mái).
Chúng cũng có nhiều màu sắc : đen, xám, khoang, trắng, nâu nhạt. Vị trí phân loại Giới: Animalia Ngành: Chordata Lớp: Aves Bộ: Columbiformes Họ: Columbidae Chi: Columba Loài: Columba livia 1. Đặc điểm sinh học 1. Đặc điểm hình thái, tập tính sinh học của chim bồ câu Thân chim hình thoi, cổ linh hoạt giúp chim dễ quan sát từ mọi phía, giúp mổ thức ăn, tự vệ, rỉa lông, tấn công.
Cơ thể chim đƣợc bao phủ bởi lông vũ. Lông phân bố đều trên bề mặt cơ thể chim non cũng nhƣ chim trƣởng thành, chiếm tỷ lệ 4 - 9% khối lƣợng sống. Lông ống có số lƣợng nhiều nhất, phân bố ở cánh và đuôi, chúng nằm xếp lớp lên nhau và tạo thành bộ lông ngoài. Lông tơ là lông bao phủ thân,tạo thành lớp nằm dƣới lông ống giữ ấm cho cơ thể.
Lông chỉ hay lông hình sợi giống lông mao của gia súc nhƣng mềm và mảnh, những lông này mọc thành nhóm nhỏ xung quanh mỏ và mí mắt. Lông chổi hay còn gọi là lông hình bút sơn mọc xung quanh lỗ huyệt, lỗ thoát chất tiết của tuyến phao câu có chùm e 9 lông tƣơng đối dài và mỏng, ở đầu có một chùm tơ trong giống nhƣ cái bút sơn. Màu sắc lông chim gắn chặt với sự có mặt của những sắc tố melanin và lipocrom. Ở tiền sắc tố melanin là melanogen.
Sự oxy hóa melanogen ở các mức độ khác nhau sẽ cho ra các màu lông khác nhau: vàng đất, vàng gỉ sắt, hung gỉ sắt, nâu hung, đen, nâu. Màu lông rực rỡ của chim đƣợc tạo bởi sắc tố lipocrom. Nó thuộc nhóm sắc tố carotenoit. Chúng làm cho lông có màu vàng, đỏ, xanh da trời.