Chương 1 TỔNG QUAN 1. Khái quát về keo PF Nhựa phenol-Formaldehyde (PF) là sản phẩm của quá trình trung ngưng giữa phenol và formaldehyde. Trên quan điểm thương mại, nhựa PF có tầm quan trọng hàng đầu kể từ đầu những năm 1900, khi xuất hiện dưới dạng polyme được sản xuất tổng hợp đầu tiên. Nghiên cứu và phát triển theo kinh nghiệm đã góp phần đáng kể vào nền tảng kỹ thuật hóa học liên quan đến các đặc tính của PF.
Các đặc tính của PF có thể được khống chế cho nhiều ứng dụng khác nhau, bao gồm nhựa đúc, hợp chất đúc và chất kết dính compozit nền gỗ. Nhựa PF rất bền với thời tiết, có thể sử dụng ở các điều kiện khắc nghiệt, được sử dụng trong vật liệu compozit nền gỗ sử dụng ngoài trời. Tùy thuộc vào tỷ lệ thành phần nguyên liệu và chủng loại chất xúc tác, hai loại chất kết dính PF đã được tạo ra là PF dạng Rezolic và PF dạng Novolac. PF dạng Rezolic được sản xuất từ quá trình trùng ngưng với chất xúc tác bazơ và sử dụng formaldehyde dư (tỉ lệ mol formaldehyde và phenol lớn hơn 1).
Mặt khác, Novolac thu được từ phản ứng trùng ngưng với chất xúc tác axit và sử dụng phenol dư (tỉ lệ mol formaldehyde và phenol nhỏ hơn 1). Tổng hợp PF phân tử lượng thấp hay PF tiền polymer (Prepolymers) Resole là kết quả của quá trình trùng ngưng của phenol với lượng formaldehyde dư trong môi trường kiềm có nước. Thông thường tỷ lệ mol P:F nằm trong khoảng 1:1,1-1:3. Hydroxit kim loại của natri và kali thường được sử dụng làm chất xúc tác.
Amoniac và các amin bậc ba như triethylamines cũng có thể xúc tác cho quá trình ngưng tụ PF. Resole công nghiệp thường được sản xuất bằng cách nấu hỗn hợp P và F từ 1 đến 8 giờ ở nhiệt độ dưới 100°C. Trong quy trình đó, nước được sử dụng làm dung môi sao cho hàm lượng chất rắn nằm trong khoảng 40 đến 60%. Do tính đa chức năng của phenol, cũng như cơ 5 chế phản ứng trong quá trình tạo ra PF rất phức tạp nên trước đây còn thiếu thoongn tin về đặc tính về cấu trúc phân tử PF.
Tuy nhiên, sau này, nhờ các kỹ thuật phân tích như cộng hưởng từ hạt nhân (NMR), sắc ký thấm gel (GPC) và quang phổ hồng ngoại (IR) đã làm rõ cấu trúc phân tử và cơ chế phản ứng liên quan đến tổng hợp PF. Các nghiên cứu đã xác định rằng quá trình tổng hợp PF là quá trình trùng ngưng theo từng bước, diễn ra trong hai giai đoạn. Ban đầu, formaldehyde được ghép nhánh vào phenol tạo ra phenol hydroxymethylated (HMP). Sau đó, HMP trải qua phản ứng trùng ngưng, tạo ra các chuỗi và liên kết ngang dạng mạng lưới.
Quá trình hình thành Hydroxymethylated Phenols (HMP) Khi phenol được thêm vào dung dịch formaldehyde với sự có mặt của bazơ, nhóm hydroxyl phenolic dễ dàng bị khử proton thành ion phenoxide phản ứng, ion này ổn định cộng hưởng (Hình 1. 1: Phản ứng của ion phenolic trong môi trường bazơ Mật độ điện tử trong ion phenoxide tăng lên dẫn đến sự thay thế vòng thơm điện di bằng methylene glycol, dạng ngậm nước của formaldehyde, cả ở vị trí para và ortho (Hình 1. 2: Quá trình thay thế Methylene Glycol trên các vị trí Ortho (hình trên) và Para (hình dưới) của phân tử Phenol Theo nghiên cứu, vị trí para được cho là phản ứng mạnh hơn vị trí ortho. Tuy nhiên, do có hai vị trí ortho cho một vị trí para, nên sự thay thế ortho chiếm ưu thế và tiến hành với tốc độ nhanh hơn so với sự thay thế para.
Nói chung, các cơ chế xúc tác khác nhau tạo ra các thành phần đồng phân cụ thể của hỗn hợp HMP. Ví dụ, khi các hydroxit kim loại được sử dụng, cơ chế tạo vòng chelate, như đề xuất đầu tiên của Caesar và Sachanen, cho rằng trong quá trình phản ứng thì sự thay thế ortho chiếm ưu thế (Hình 1. 3: Quá trình tạo vòng Chelate trung gian trong môi trường bazơ 7 Mặt khác, khi các chất xúc tác amoniac và amin được sử dụng, các chất trung gian chứa nitơ có khả năng hình thành như trong Hình 1. 4: Quá trình tạo hợp chất Di(hydroxybenzylamine) (hình trái) và Tri(hydroxybenzylamin) (hình phải) trong môi trường bazơ khi tổng hợp PF Nghiên cứu cũng chỉ ra, cho dù cơ chế xúc tác là gì, quá trình hydroxymetyl hóa đều diễn ra rất nhanh chóng do đó tạo ra mức độ thay thế hydroxymetyl cao trước khi quá trình trùng ngưng diễn ra với tốc độ giảm dần.
Thông thường, hỗn hợp phản ứng bao gồm các HMP thay thế mono-, di- và tri-. Trên thực tế, sự thay thế của formaldehyde trên các HMP thay thế mono- và di- diễn ra với tốc độ nhanh hơn quá trình hydroxymetyl hóa ban đầu, vì vậy đã tạo ra các dẫn xuất dạng tri- với tỉ lệ cao hơn. Ở giai đoạn trùng hợp này, formaldehyde dư cũng có thể phản ứng với các nhóm hydroxymethyl phenolic để tạo ra các gốc hemiformal thay thế. Các cấu trúc phân tử như vậy đã được phát hiện bằng dung dịch NMR .5 minh họa một số dẫn xuất hydroxymetyl hóa có mặt khá nhiều ở giai đoạn đầu của phản ứng trùng ngưng PF.
Ở giai đoạn này, HMP có thể thực hiện được các phản ứng trùng ngưng ở mức độ thấp. 5: Các dẫn xuất của HMP 1. Trùng ngưng của các HMP Phản ứng trùng ngưng của các hydroxymethylated là một phản ứng hóa học trong đó nước được giải phóng. Jones lần đầu tiên chỉ ra có sự tồn tại của chất trung gian quinone methide ở trong phản ứng này (Hình 1.
6: Sự hình thành hợp chất trung gian Quinone Methide từ HMP Quinone methide rất dễ phản ứng và sẽ phản ứng với các vị trí nucleophilic từ phenol khác hoặc phenol thay thế. Trong quá trình thay thế nhân thơm tiếp theo này, các cầu metylen được tạo ra (Hình 1. Cầu metylen hình thành chủ yếu ở vị trí ortho-para và para-para, trong khi cầu metylen ortho- ortho ít được hình thành hơn. 7: Phản ứng trùng ngưng với hợp chất trung gian Quinone Methid Nghiên cứu cũng cho rằng các nhóm hydroxymethyl của HMP có thể trùng ngưng để tạo thành các cầu nối ether.
Cầu ete metylen có thể thu được bằng phản ứng của nhóm hydroxymetyl trên chất trung gian metyde quinon như minh họa trong Hình 1. 8: Cơ chế hình thành cầu nối Methylene Ether Sự hình thành cầu nối dibenzyl ether chiếm ưu thế trong điều kiện trung tính hoặc axit và yêu cầu nhiệt độ cao tới 130°C. Ngoài ra, các cầu nối metylen ether thường chuyển đổi thành các cầu metylen ổn định hơn khi gia nhiệt cao 10 hơn. Do đó, các cấu trúc ether chỉ có khả năng tồn tại dưới dạng chất trung gian trong quá trình trùng ngưng PF.
Nói chung, quá trình tạo ra PF dừng lại ở giai đoạn oligomeric này; cái gọi là nhựa resitol hoặc nhựa giai đoạn B có thời gian sống từ 3 đến 9 tháng. Tùy thuộc vào mục đích sử dụng cuối cùng của nhựa, các quy trình tổng hợp khác nhau được thực hiện để thu được các loại keo PF có đặc tính như mong muốn. Ví dụ, ván dăm kết cấu định hownsg - Oriented Strand Board (OSB) được sản xuất với loại nhựa có phân tử lượng trung bình khoảng 200-500 g/mol và độ nhớt từ 100 đến 500 mPa. Mặt khác, PF để sản xuất ván ép được tổng hợp với công nghệ tiên tiến hơn với phan tử lượng trung bình khoảng 1000-2000 g/mol và độ nhớt lên tới 2000 mPa.
Do đó, các đặc tính của nhựa được kiểm soát dễ dàng cho các ứng dụng cụ thể. Điều kiện tổng hợp và đặc tính của PF phân tử lượng thấp Không chỉ đến thời điểm này, mà từ những năm của nhiều thập niên trước đã có một số lượng lớn các nghiên cứu đánh giá tính chất của PF trên cơ sở các điều kiện phản ứng. Đồng thời, trong thời gian dài trước đây các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ chất xúc tác và tỉ lệ thành phần nguyên liệu ảnh hưởng đáng kể đến các đặc tính của dung dịch PF dạng resole. Cùng với đó các quy trình tổng hợp cũng đã được phát triển theo kinh nghiệm cũng như lý luận để đáp ứng các thông số kỹ thuật sử dụng.
Nguyên liệu đầu vào (1) Các chất xúc tác Bản chất của chất xúc tác ảnh hưởng đến cấu trúc và cấu trúc liên kết đồng phân resitol (nhựa giai đoạn B). Ví dụ, sự thay thế ortho ưu tiên tăng theo trình tự các chất xúc tác sau đây KOH< NaOH< LiOH< BaOH< SrOH< CaOH< MgOH. Các chất xúc tác dạng amoni được cho là tạo ưu thế tạo ra các resitol mạch thẳng hơn. Một vấn đề rất quan trọng khác là chất xúc tác có ảnh hưởng đáng kể đến độ hòa tan của PF.
11 Ví dụ, natri hydroxit làm tăng khả năng hòa tan của PF trong nước do đó làm giảm độ nhớt của dung dịch. Vì vậy, có thể sản xuất ra sản phẩm PF có phân tử lượng lớn hơn bằng cách tăng hàm lượng natri hydroxit trong khi vẫn duy trì các đặc tính về độ nhớt. Tương tự như vậy, nồng độ hỗn hợp nguyên liệu đầu vào có thể được điều chỉnh để cho phép các resitol tăng lên trong khi vẫn duy trì được độ nhớt dung dịch keo theo mong muốn. Các thí nghiệm tương tự đã được áp dụng trong nhựa PF sản xuất ván ép có hàm lượng natri hydroxit cao hơn và hàm lượng khô thấp hơn so sản xuất OSB.
(2) Tỉ lệ thành phần nguyên liệu P và F Tính chất resitol của PF phần lớn bị chi phối bởi tỷ lệ mol F:P ban đầu. Nói chung, tỷ lệ F:P cao tạo ra nhựa phân nhánh cao trong khi tỷ lệ F:P thấp tạo ra các cấu trúc mạch thẳng nhiều hơn. Trong nghiên cứu, các tác giả đã sử dụng quang phổ IR, GPC và NMR để thu được thông tin chi tiết về các đặc tính của PF là hàm số tuyến tính với tỷ lệ mol F:P. Tỷ lệ F:P cao hơn đã làm tăng cường quá trình hydroxymetyl hóa và tăng mức độ trùng ngưng.
Tương tự, cấu trúc cầu hemiformal và ether có liên quan trực tiếp đến lượng formaldehyde dư. Đồng thời, sự ảnh hưởng tổng hợp giữa tỷ lệ F:P và nhiệt độ xử lý trên cấu trúc hóa học PF đã được chỉ ra. Cụ thể, nhiệt độ xử lý cao sẽ có tác dụng chuyển metylen ether thành cầu metylen khi sử dụng tỷ lệ F:P cao. Trong khi So et al.
báo cáo không có ảnh hưởng của tỷ lệ F:P đến cấu trúc đồng phân resitol. Các thí nghiệm cũng chỉ ra rằng các phản ứng hydroxymetyl hóa và trùng ngưng chuyển sang các bước riêng biệt hơn với tỷ lệ mol F:P tăng dần.