Mở đầu Điện lực An Nhơn được giao nhiệm vụ quản lý vận hành lưới điện và kinh doanh bán điện trên địa bàn thuộc khu vực thị xã An Nhơn, một phần xã Phước Hưng, huyện Tuy Phước và một phần xã Cát Tân, huyện Phù Cát. Hiện nay, Thị xã An Nhơn đã và đang tập trung các nguồn lực đẩy nhanh tốc độ đầu tư xây dựng theo quy hoạch gồm: KCN Nhơn Hòa, CCN Tân Đức, CCN Đồi Hỏa Sơn, CCN Nhơn Phong, CCN An Mơ … tập trung xây dựng đưa thị xã An Nhơn thành Thành Phố vào năm 2025 trở thành trung tâm tăng trưởng phía Nam của tỉnh và đầu mối giao thông phục vụ trực tiếp cho khu vực miền Trung - Tây Nguyên; xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng lớn để gắn kết với các khu vực lân cận theo trục Bắc - Nam và Đông - Tây; phát triển các ngành kinh tế trọng điểm mà thị xã An nhơn có lợi thế là công nghiệp chế biến lâm - nông - thuỷ sản, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, vật liệu xây dựng, giày da, may mặc, cơ khí, phát triển du lịch, thương mại, dịch vụ tài chính, ngân hàng, bưu chính, viễn thông. Hiện trên địa bàn thị xã An Nhơn nguồn điện được cấp từ TBA 110kV An Nhơn và TBA 110kV Nhơn Tân với tổng công suất 138MVA, ngoài ra còn có Thủy điện Hồ Núi Một với công suất 1650kVA được đấu nối vào lưới điện trung áp 22kV xuất tuyến 479/NTA phát lên lưới điện. Như vậy cùng với nguồn điện hiện có như trên Điện lực An Nhơn hiện đang quản lý vận hành 17 xuất tuyến 22kV, 01 xuất tuyến 35kV với tổng chiều dài 327,73km; với 650 TBA tổng công suất 244.105kVA và 192 chủ đầu tư điện mặt trời với tổng công suất 16 lắp đặt 20.908kWp để đáp ứng phục vụ trên địa bàn thị xã.
Phụ lục 1 thể hiện danh sách nhà đầu tư ĐMTMN trên lưới Điện lực An Nhơn. Về cơ cấu điện tiêu thụ của Điện lực An Nhơn năm 2021 thực hiện đạt: 269,73(tr.kWh) trong đó về NN-LN-TS: 5,03(tr.kWh); CN-XD: 143,85(tr.kWh); TN-KS: 4,91(tr.kWh); QLTD: 107,96(tr.kWh); Khác: 7,97(tr. Giá điện bình quân: 1. Nguồn cấp điện liên kết lưới điện phân phối ở Thị xã An Nhơn Hệ thống lưới điện Điện lực An Nhơn hiện đang quản lý với các cấp điện áp 35kV, 22kV.
Phần lớn lưới điện đều đầu tư xây dựng thông qua các dự án Sida (năm 2005) và đầu tư xây dựng lưới điện sau các TBA 110kV để cấp điện cho phát triển kinh tế cho toàn thị xã An Nhơn và các khu vực lân cận. Việc tạo các lưới điện liên kết là một trong nhưng tiêu chí đầu tiên để xây dựng (N-1). Hiện tại lưới điện Điện lực An Nhơn quản lý có các liên kết với xuất tuyến 22kV, 35kV đấu nối sau các TBA 110kV khác cụ thể như: xuất tuyến 471/ANH, XT 474/ANH liên kết với TBA 110kV Phước Sơn, xuất tuyến 371/ANH liên kết với TBA Quy Nhơn 220, xuất tuyến 472/ANH, 474/ANH kết với TBA 110kV Phù Cát, xuất tuyến 473/NTA, 475/NTA, 474/NTA liên kết với TBA 110kV Tây Sơn. Với lưới điện mạch vòng liên kết như thế đảm bảo việc cung cấp điện an toàn và cung cấp điện liên tục trên toàn thị xã.
Ứng dụng công nghệ vào vận hành lưới điện Để đáp ứng nhu cầu quản lý, vận hành hệ thống lưới điện với khối lượng trạm biến áp và đường dây ngày càng lớn trong những năm qua Công ty Điện lực Bình Định luôn chú trọng và đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ tiên tiến với mục tiêu hiện đại hóa, tự động hóa lưới điện theo lộ trình xây dựng lưới điện thông minh, tự động hóa trong công tác vận hành lưới điện góp phần nâng cao năng suất lao động, nâng cao độ tin cậy cung cấp điện, chất lượng điện năng, đảm bảo quyền lợi cho khách hàng. 17 Việc đưa 14 TBA 110kV trên địa bàn tỉnh Bình Định vào vận hành không người trực là một minh chứng cụ thể nhất về áp dụng công nghệ trong công tác quản lý vận hành. Đồng thời toàn bộ các thiết bị đóng cắt trên hệ thống lưới điện trung thế (22-35kV) như: máy cắt Recloser, dao cắt có tải kiểu kín LBS- C đều được kết nối về Trung tâm điều khiển - Công ty Điện lực Bình Định. Việc thực hiện việc thao tác đóng cắt máy cắt Recloser, dao cắt có tải kiểu kín LBS-C đều được thực hiện bằng hình thức điều khiển xa từ Trung tâm điều khiển phục vụ cho công tác phân vùng sự cố, tách các phần tử bị sự cố ra khỏi lưới điện và giúp khôi phục lại lưới điện sớm nhất.
Đây là giải pháp tối ưu cho việc điều khiển hệ thống điện trên địa bàn tỉnh mà Công ty Điện lực Bình Định đang thực hiện. Các thao tác đóng cắt vận hành thiết bị, giám sát hoạt động và thu thập dữ liệu đều được thực hiện từ xa giảm được sức lực cho người lao động, giảm các chỉ số về độ tin cậy cung cấp điện. Bên cạnh đó Công ty Điện lực Bình Định đã, đang tiếp tục việc nâng cao hơn nữa áp dụng hiệu quả các ứng dụng phần mềm như hệ thống thông tin quản lý khách hàng CMIS; hệ thống quản lý kỹ thuật PMIS; phần mềm hỗ trợ lắp đặt, vận hành thiết bị đo đếm công tơ điện tử từ xa DSPM; Hệ thống Quản lý độ tin cậy cung cấp điện OMS, Công nghệ vệ sinh Hotline, chuẩn đoán tình trạng vận hành thiết bị đang mang điện (CBM) …góp phần đảm bảo điều hành lưới điện an toàn, ổn định, đồng thời nâng cao năng suất lao động, giảm thiểu sự cố gây nguy hiểm cho người lao động và trong thời gian đến Công ty Điện lực Bình Định sẽ triển khai thử nghiệm ứng dụng công nghệ AI trong xử lý và nhận diện hình ảnh để giám sát tuyến đường dây, các vị trí cột trọng yếu hay sạt lở; sử dụng UAV trong kiểm tra định kỳ và hành lang lưới điện giúp cho đơn vị thuận tiện trong kiểm tra các tuyến đường dây và thiết bị, qua đó nhân viên vận hành có đủ dữ liệu, thông tin để kiểm tra đánh giá tình trạng vận hành của lưới điện, nhanh chóng phát hiện ra các khiếm khuyết, các vị trí bị phóng điện có nguy cơ xảy ra sự cố, 18 các vị trí cây cối nằm trong hành lang hoặc có khả năng ngã đổ vào đường dây kịp thời đưa ra giải pháp khắc phục, ngăn ngừa, giảm thiểu sự cố trên đường dây, nâng cao độ tin cây cung cấp điện, giảm thời gian mất điện, nâng cao chất lượng điện năng cung cấp cho khách hàng 2. Kết luận chương 2 Trong chương 2, tác giả đã tổng quát về lưới điện thị xã An Nhơn do Điện lực An Nhơn quản lý qua đó ta có cái nhìn tổng thể về công tác quản lý vận hành và kinh doanh tại đơn vị.
Việc áp dụng công nghệ vào trong công tác quản lý vận hành là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của trong Đề án: Nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Bước vào chương 3, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu về các tiêu chí để đánh giá hiệu quả của các hệ thống điện năng lượng mặt trời mái nhà nối lưới, qua đó cho thấy được ưu nhược điểm của hệ thống này từ đó đề xuất hướng phát triển. 19 CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỆN MẶT TRỜI MÁI NHÀ ĐỐI VỚI LƯỚI ĐIỆN HIỆN HỮU 3. Mở đầu Phát triển các nguồn điện dùng năng lượng tái tạo, nhất là nguồn ĐMT ở Việt Nam đang được Nhà nước khuyến khích mạnh bằng nhiều chính sách, cơ chế hỗ trợ.
Đây là định hướng đúng đắn, phù hợp cho phát triển bền vững, giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ việc đốt các nhiên liệu hóa thạch để sản xuất điện. Song hành với những lợi ích không thể phủ nhận của nguồn ĐMT, chúng lại có đặc điểm là phụ thuộc vào bức xạ mặt trời ban ngày và ban đêm, tính thất thường của thời tiết, mây mù, giông bão. Thực tế cho thấy, các nguồn ĐMT chỉ làm việc hiệu quả từ khoảng 7h sáng tới 16h chiều hàng ngày. Nếu không có thiết bị pin dự trữ để phát lại điện vào chiều tối và ban đêm thì coi như nguồn ĐMT chỉ làm việc hiệu quả khoảng 8 giờ/ngày và chỉ có công suất cực đại vào buổi trưa, khi mặt trời lên cao nhất.
Còn những ngày mưa gió, mây mù thì công suất không đáng kể. Có thể thấy, với đặc điểm thay đổi công suất nhanh, không kiểm soát, điều khiển được, ĐMT sẽ gây ra dao động lớn với hệ thống điện theo biến thiên của cường độ bức xạ của mặt trời. Nếu các nguồn điện khác không được đầu tư thêm để thay thế tại các thời điểm đó hoặc các nguồn điện hiện có không được điều chỉnh tăng (hay giảm) công suất kịp thời để bù - trừ trong khi có ĐMT tham gia, hệ thống điện sẽ mất cân bằng nguồn cấp và phụ tải tiêu thụ. Khi đó, điện áp và tần số hệ thống điện sẽ vượt ra ngoài chỉ số định mức cho phép và các hệ thống bảo vệ sẽ tác động, dẫn đến hậu quả rã lưới, mất điện trên diện rộng.
20 Như vậy, cần có nguồn phát điện dự phòng khác để huy động khi nguồn ĐMT biến thiên nhanh hoặc đột ngột dừng. Đồng thời, nhằm đảm bảo cho hệ thống điện vận hành an toàn, không sụt điện áp, tần số thì cần có lượng công suất sẵn sàng gần tương đương với tổng các nguồn ĐMT tham gia. Sóng hài và các giải hạn chế sóng hài đối với hệ thống ĐMT Thực hiện chính sách khuyến khích phát triển ĐMT theo nội dung của Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị, Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 và Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg đã được triển khai mạnh mẽ, song các vấn đề về ảnh hưởng và tác hại từ sóng hài gây ra lại chưa đạt được nhiều sự quan tâm. Tác hại của sóng hài với lưới điện khi giá trị hiệu dụng và giá trị biên độ của tín hiệu điện áp hay dòng điện tăng do sóng hài sẽ kéo theo một loạt những nguy hại xảy ra với toàn bộ hệ thống lưới điện như làm tăng phát nóng của dây dẫn điện, thiết bị điện sinh ra nhiệt cao gây hư hỏng thiết bị, hỏa hoạn và nguy cơ cháy nổ; làm cho tụ điện bị quá nhiệt và trong nhiều trường hợp có thể dẫn tới phá hủy chất điện môi.