đặt vấn đề và nêu lý do nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu; đóng góp của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Trình bày một số kiến thức về năng lƣợng tái tạo: khái niệm năng lƣợng tái tạo, lịch sử phát triển năng lƣợng tái tạo, phân loại năng lƣợng tái tạo. Trình bày cơ sở lý thuyết về tăng trƣởng kinh tế.
Tổng quan các nghiên cứu trƣớc có liên quan đến đề tài từ đó làm cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trình bày quy trình nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, cách thức thu thập dữ liệu, phƣơng pháp xử lý số liệu và từ đó đƣa ra mô hình chính thức cho đề tài với các biến độc lập và biến phụ thuộc. 6 Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Mô tả phân tích thống kê dữ liệu nghiên cứu, kết quả phân tích của mô hình kinh tế lƣợng; xác định chiều hƣớng tác động của tiêu thụ năng lƣợng tái tạo đến tăng trƣởng kinh tế ở các nƣớc ASEAN. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách. Dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả đƣa ra các kết luận và đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển lĩnh vực năng lƣợng tái tạo, tăng trƣởng kinh tế khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Hạn chế và hƣớng nghiên cứu tiếp theo của đề tài (nếu có).
Tóm lại, qua Chƣơng 1 có thể cơ bản nắm đƣợc các nội dung cấu thành luận văn và hình dung một cách khái quát nội hàm của nghiên cứu. 7 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Chƣơng 2 sẽ trình bày các khái niệm về tăng trƣởng kinh tế, năng lƣợng tái tạo; các yếu tố thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế; các lý thuyết và mô hình về tăng trƣởng kinh tế; kết quả nghiên cứu của các tác giả có liên quan đến nội dung của luận văn. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng khung phân tích về tác tác động của tiêu thụ năng lƣợng tái tạo đến tăng trƣởng kinh tế. Cơ sở lý thuyết về tăng trƣởng kinh tế 2.
Khái niệm tăng trƣởng kinh tế Theo Begg và ctg. (2007), tăng trƣởng kinh tế là sự gia tăng về số lƣợng, chất lƣợng, tốc độ và quy mô sản lƣợng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Sự tăng trƣởng đƣợc so sánh theo các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trƣởng. Theo Perkins (2006) tăng trƣởng kinh tế là sự tăng lên trong thu nhập quốc dân thực tế bình quân đầu ngƣời mà một nền kinh tế sản xuất ra sau khi đã điều chỉnh lạm phát.
Đây là thƣớc đo tƣơng đối khách quan về năng lực kinh tế. Sự tăng trƣởng kinh tế phụ thuộc vào 2 quá trình: sự tích lũy tài sản và đầu tƣ những tài sản này có năng suất hơn. Chính sách chính phủ, thể chế, sự ổn định chính trị và kinh tế, đặc điểm địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên, trình độ y tế và giáo dục, tất cả đều đóng vai trò nhất định ảnh hƣởng đến tăng trƣởng kinh tế. Đo lƣờng tăng trƣởng kinh tế Có hai thƣớc đo cơ bản về thu nhập quốc dân đƣợc sử dụng phổ biến.
Thứ nhất, “Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)” là tổng giá trị hàng hoá và dịch vụ cuối cùng đƣợc một xã hội tạo ra trong thời gian một năm. GNP loại trừ hàng hoá trung gian (hàng hoá đƣợc sử dụng để sản xuất ra những hàng hoá khác). GNP tính đến sản lƣợng do công dân của một quốc gia tạo ra, bao gồm cả giá trị hàng hoá và dịch vụ do công dân quốc gia đó sống ở nƣớc ngoài tạo ra. GNP là một thuật ngữ khá thông dụng đƣợc sử dụng trong hạch toán thu nhập quốc dân.
Ngân hàng thế giới và các tổ chức đa phƣơng khác thƣờng sử dụng một khái niệm tƣơng tự là tổng thu nhập quốc dân (GNI). Thứ hai, “Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)” cũng giống nhƣ GNP, chỉ khác là nó tính đến tất cả 8 sản lƣợng đƣợc tạo ra trong lãnh thổ một quốc gia, bao gồm cả sản lƣợng do ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú tạo ra, không tính đến giá trị sản lƣợng do công dân nƣớc đó sống ở nƣớc ngoài tạo ra. GNP hay GDP chia cho tổng dân số sẽ tạo ra một thƣớc đo về “thu nhập bình quân đầu người” (Perkins và ctg. Theo định nghĩa các chỉ số thống kê của World Bank, GDP là tổng giá trị gia tăng của tất cả các nhà sản xuất thƣờng trú trong nền kinh tế cộng với mọi khoản thuế sản phẩm và trừ đi bất kỳ khoản trợ cấp không tính vào giá trị của sản phẩm.
Nó đƣợc tính toán mà không thực hiện trích khấu hao tài sản hoặc hạch toán tình trạng cạn kiệt và suy thoái tài nguyên thiên nhiên. Số liệu về GDP này của các quốc gia đƣợc thu thập hàng năm và cập nhật trên trang website World Bank Indicators của World Bank. Một số mô hình lý thuyết tăng trƣởng kinh tế 2. Mô hình cổ điển Theo Võ Văn Đức và ctg.
Lý thuyết tăng trƣởng kinh tế của Adam Smith (1776) Adam Smith cho rằng: tăng trƣởng kinh tế là tăng đầu ra tính theo bình quân đầu ngƣời, hoặc tăng sản phẩm lao động (tăng thu nhập ròng của xã hội). Ông cho rằng, nguồn gốc của sự tăng trƣởng phát sinh từ năm yếu tố: sức lao động, tiền vốn (tƣ bản), đất đai, tiến bộ kỹ thuật và môi trƣờng kinh tế xã hội. Có thể biểu diễn hàm sản xuất tổng sản lƣợng theo tƣ tƣởng của ông nhƣ sau: Y = f(L,K,R,T,U) Trong đó: Y: sản lƣợng; L: sức lao động; K: tiền vốn; R: đất đai; T: tiến bộ kỹ thuật; U: môi trƣờng kinh tế xã hội. 9 Trong năm yếu tố trên, ông coi lao động là yếu tố tăng trƣởng quan trọng.
Ông viết: “Một ngƣời có hàng hoá do sức lao động của mình làm ra, nhƣng không muốn tiêu dùng mà muốn trao đổi để lấy những hàng hoá khác, thì giá trị của số hàng hoá đó bằng lƣợng lao động mà anh ta có thể chiếm dụng hoặc mua đƣợc nhờ có số hàng hoá đó. Vì thế lao động là thƣớc đo thực tế đối với giá trị trao đổi của mọi thứ hàng hoá”, nhƣng yếu tố đóng vai trò quan trọng hơn cả lao động là yếu tố tƣ bản. Ông cho rằng muốn tăng của cải của dân tộc thì phải tăng số ngƣời lao động sản xuất và nâng cao năng suất lao động, nhƣng để tăng số gƣời lao động mang tính sản xuất thì trƣớc hết phải tăng tƣ bản tích lũy và muốn nâng cao năng suất lao động thì phải tăng máy móc, công cụ hoặc cải tiến chúng cho lao động thuận tiện hơn. Từ căn cứ này sau đó nhiều nhà khoa học kinh tế cho rằng Adam Smith đã đặt nền tảng cho học thuyết tăng trƣởng kinh tế dựa trên tích lũy tƣ bản.
Học thuyết của David Ricardo (1817) Ricardo cho rằng đất đai, lao động và vốn là các yếu tố cơ bản của tăng trƣởng kinh tế. Sự kết hợp giữa các yếu tố này, trong từng ngành, với một trình độ kỹ thuật nhất định, là không đổi. Theo Ricardo, hao phí các yếu tố trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp có khác nhau. Cụ thể, trong nông nghiệp khi nhu cầu lƣơng thực, thực phẩm tăng thì cần phải tiến hành sản xuất trên những mảnh đất kém mầu mỡ do đó chi phí sản xuất tăng lên, lợi nhuận giảm đi.
Ngƣợc lại, trong công nghiệp, khi sản xuất gia tăng theo quy mô thì lợi nhuận cũng tăng theo. Trong ba yếu tố kể trên, theo Ricardo đất đai là quan trọng nhất. Bởi vì đất đai canh tác là hạn chế nên đất đai chính là giới hạn của tăng trƣởng. Khi sản xuất nông nghiệp gia tăng trên các mảnh đất kém mầu mỡ thì giá lƣơng thực, thực phẩm sẽ tăng lên.
Mà lƣơng thực, thực phẩm là yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo đời sống của công nhân. Do đó, tiền lƣơng danh nghĩa của công nhân cũng phải tăng lên tƣơng ứng, làm cho lợi nhuận của nhà tƣ bản có xu hƣớng giảm xuống. Trong khi đó, dân số tăng nhanh làm khan hiếm tƣ liệu sản xuất dẫn đến nhu cầu canh tác trên các mảnh đất xấu. Nếu cứ tiếp tục nhƣ vậy cho đến khi lợi nhuận hạ thấp không thể bù đắp mọi rủi ro trong kinh doanh làm cho nền kinh tế trở nên bế tắc: địa tô ở mức cao, tiền công ở mức tối thiểu, lợi nhuận ở gần mức không, tích luỹ tƣ bản ngừng lại, tăng trƣởng bị giới hạn bởi đất đai.
10 Để giải quyết vấn đề này, Ricardo cho rằng cần đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá công nghiệp để mua lƣơng thực, thực phẩm rẻ hơn từ nƣớc ngoài, hoặc phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp. Tóm lại, theo Ricardo, tăng trƣởng là kết quả của tích lũy, tích lũy là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận phụ thuộc vào chi phí sản xuất lƣơng thực, chi phí này phụ thuộc vào đất đai. Do đó, đất đai là giới hạn của tăng trƣởng. Trong mô hình tăng trƣởng kinh tế của Ricardo, tƣ bản là yếu tố quyết định khả năng tạo ra của cải của một quốc gia, hay tốc độ tăng trƣởng kinh tế phụ thuộc hoàn toàn vào tốc độ tích lũy tƣ bản.
Tƣ bản đƣợc tích lũy càng nhanh thì tăng trƣởng kinh tế càng cao, và ngƣợc lại. Mô hình tân cổ điển Nếu các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng trong từng ngành và phù hợp với một trình độ kỹ thuật nhất định các yếu tố sản xuất kết hợp với nhau theo một tỷ lệ cố định, không thay đổi thì các nhà kinh tế học tân cổ điển lại cho rằng sản xuất trong một tình trạng nhất định, giữa các yếu tố sản xuất - vốn, lao động - có thể đƣợc kết hợp với nhau theo nhiều cách. Các nhà kinh tế học tân cổ điển cho rằng tiến bộ kỹ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy sự phát triển kinh tế (Võ Văn Đức và ctg. Các nhà kinh tế học tân cổ điển cố gắng giải thích nguồn gốc của sự tăng trƣởng thông qua hàm sản xuất.
Phƣơng trình hàm sản xuất ở dạng chung nhất của trƣờng phái tân cổ điển nêu lên mối quan hệ giữa sự tăng lên của đầu ra với sự tăng lên của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động, tài nguyên và khoa học - công nghệ. Phƣơng trình đƣợc viết nhƣ sau: Y = f(K,L,R,T) Trong đó: Y: tổng sản phẩm đầu ra; K: vốn sản xuất; L: lao động; R: nguồn tài nguyên thiên nhiên; T: khoa học công nghệ.