Chương 1: Tổng quan đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu liên quan Chương 3: Phân tích động lực học dao tiện chống rung Chương 4: Thiết kế quy trình và thực nghiệm Chương 5: Phân tích số liệu Chương 6: Kết luận và kiến nghị 4 1.7 - Phương pháp thực hiện Vấn đề Nhận diện được vấn đề đang tìm hiểu. v Thông tin Tổng quan về nội Các trường hợp nghiên Đo lường thực tế. cứu liên quan. Kế hoạch và hành động Tìm hiểu phương Thiết lập thực nghiệm.
Xây dựng mô hình. pháp thực hiện. Quy trình thực hiện Phân tích Thu thập Kiểm chứng Kết luận Kết luận và kiến nghị Hình 1.1 - Quy trình thực hiện luận văn. 5 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 - Cơ sở lý thuyết gia công kim loại 2.1 - Tổng quan về gia công kim loại Gia công kim loại là quá trình công nghệ tạo nên những sản phẩm cơ khí có hình dáng kích thước và độ bóng bề mặt.
theo yêu cầu kỹ thuật từ một phôi liệu ban đầu, nhờ quá trình cắt bỏ lớp kim loại dưới dạng phoi. Một trong những hoạt động loại bỏ kim loại cơ bản nhất được sử dụng trong ngành sản xuất là quá trình tiện, được thực hiện bằng dao tiện dài và mảnh để nó có thể vừa khít hoặc xuyên qua hình dạng phôi phức tạp. Quá trình gia công phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ cứng của máy, độ ổn định, độ cứng của dao, khả năng giảm rung động tốt và độ cứng của các bộ phận cấu thành [1]. Độ nhám bề mặt là một trong những khía cạnh quan trọng trong thiết kế cơ khí, vì nó chi phối các yêu cầu của nhiều bộ phận cơ khí như khả năng chống mài mòn và ăn mòn, độ bền mỏi, tuổi thọ sản phẩm và khả năng sinh nhiệt [2].
Rung động xảy ra trong quá trình tiện tạo ra lực cắt lớn, có thể làm hỏng máy, làm hỏng dụng cụ cắt và phôi, gây mòn dụng cụ, gãy dụng cụ, bề mặt hoàn thiện không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật đề ra và sai số về kích thước [2,3]. Do đó, việc giảm rung động trong quá trình tiện là rất quan trọng. Bên cạnh đó, hoạt động tiện chứa nhiều thông số như vật liệu phôi và dụng cụ cắt, tốc độ cắt, tốc độ trục chính, chiều sâu cắt, dung dịch làm mát, cấu tạo dụng cụ, phần nhô ra của dụng cụ, bán kính và góc cạnh của dụng cụ [4,5,6]. Do đó, trong một quy trình tiện sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, vì vậy khó đạt được chất lượng bề mặt theo yêu cầu [6,7].
Trong đó, các rung động lớn xảy ra trong quá trình tiện do chuyển động động giữa chi tiết gia công và dụng cụ cắt gây ra ảnh hưởng lớn đến khả năng hoàn thiện bề mặt gia công [7,8,9]. Trong đó, máy tiện là một trong những máy công cụ linh hoạt và lâu đời trong lĩnh vực gia công. Hoạt động chính của máy tiện là kẹp giữ và xoay phôi gia công dựa vào dụng cụ cắt. Dao di chuyển dọc theo mặt ngoài của phôi để tách vật liệu và tạo ra chi tiết có biên dạng hình trụ đối xứng (Hình 2.1 - Một số ví dụ về các bộ phận điển hình được gia công trên máy tiện.2 - Chế độ cắt khi gia công a) Vận tốc cắt (Vc): Vận tốc cắt (Vc) là lượng dịch chuyển tương đối giữa dụng cụ cắt và chi tiết gia công trong một đơn vị thời gian (hoặc lượng dịch chuyển tương đối của một điểm trên bề mặt chi tiết gia công và dụng cụ cắt trong một đơn vị thời gian) ta có: ⃗⃗⃗⃗ ⃗ +𝑆 𝑉𝐶 = 𝑉 (2.1) Đa số các trường hợp trị số của vận tốc chuyển động chạy dao S rất nhỏ nên có thể coi vận tốc cắt là vận tốc chuyển động chính V ~ V.
Ví dụ khi tiện ngoài chi tiết đường kính D (mm) số vòng quay trục chính n (vòng/phút) thì trị số của tốc độ cắt có thể tính theo công thức: 𝜋. Ví dụ: Khi tiện thì chiều sâu cắt được tính: t = (D-d)/2 (khi tiện ngoài) mm (khi tiện trong) mm t = (d-D)/2. c) Lượng chạy dao (S): Lượng chạy dao (S) là quãng đường tương đối của dụng cụ cắt so với chi tiết theo phương chuyển động chạy dao sau một đơn vị thời gian, sau một vòng quay của phôi hay sau một hành tình kép.2 - Mô hình điển hình trong quá trình tiện. Khi tiện, lượng chạy dao S là lượng dịch chuyển của dao theo phương chạy dao dọc theo bề mặt gia công sao một vòng quay của phôi (mm/vòng).
Tập hợp các yếu cấu vận tốc cắt V, chiều sâu cắt t và lượng chạy dao S được gọi là chế độ cắt. Một chế độ cắt được xác lập dựa trên hệ thống công nghệ bao gồm: máy – dao – đồ gá và chi tiết gia công.3 - Mô hình lượng chạy dao S trong quá trình tiện.3 - Sự hình thành bề mặt trên chi tiết trong quá trình cắt Bất kỳ phương pháp gia công nào, quá trình tách dần lớp lượng dư gia công cơ (quá trình cắt) đều hình thành trên chi tiết ba bề mặt có đặc điểm khác nhau. Xét tại một thời điểm nào đó trong quá trình gia công (khi tiện), ba bề mặt trên được phân biệt như sau: ▪ Mặt sẽ gia công: là bề mặt của phôi mà dao sẽ cắt đến theo qui luật chuyển động. Tính chất của bề mặt này là tính chất bề mặt phôi.
▪ Mặt đã gia công: là bề mặt trên chi tiết mà dao đã cắt qua. Tính chất của bề mặt này là phản ánh những kết quả của các hiện tượng cơ lý trong quá trình cắt. ▪ Mặt đang gia công: là bề mặt trên chi tiết mà lưỡi dao đang trực tiếp thực hiện tách phoi. Cũng là mặt nối tiếp giữa mặt đã gia công và mặt sẽ gia công.
Trên bề mặt này đang diễn ra các hiện tượng phức tạp. ▪ Vùng cắt: Là phần kim loại của chi tiết vừa được tách ra ở gần mũi dao và lưỡi cắt nhưng chưa thoát ra ngoài. Đây là vùng đang xảy ra các quá trình cơ lý phức tạp.4 - Các bề mặt dao hình thành trong quá trình gia công.4 - Các mặt phẳng cơ bản trong quá trình gia công Để xác định các góc độ của dao và khảo sát về lực cắt, vận tốc cắt, nhiệt độ. người ta qui định các mặt phẳng toạ độ của dao (dao tiện).5 - Biểu diễn mặt phẳng cơ bản trong quá trình tiện.
⃗ ): Hệ toạ độ được xác định trên cơ sở của ba phương chuyển động cắt (𝑆, 𝑡 , 𝑉 ⃗ và vectơ chạy dao 𝑆 ▪ Mặt phẳng cơ bản 1: Được tạo bởi vectơ tốc độ 𝑉 ⃗ và vectơ chiều sâu cắt ▪ Mặt phẳng cơ bản 2: Được tạo bởi vectơ tốc độ 𝑉 𝑡. ▪ Mặt phẳng cơ bản 3:(còn gọi là mặt đáy) được tạo bởi vectơ chạy dao 𝑆 và vectơ chiều sâu cắt 𝑡. Là mặt phẳng đi qua một điểm của lưỡi cắt chính và vuông góc với vectơ vận tốc cắt tại điểm đó. Đối với dao có tiết diện là hình lăng trụ thì mặt đáy song song với mặt tỳ của thân dao trên ổ gá dao.
▪ Mặt phẳng cắt là mặt phẳng đi qua một điểm của lưỡi cắt chính và tiếp ⃗. Hay mặt xúc với mặt đang gia công. Mặt cắt chứa vectơ vận tốc cắt 𝑉 phẳng chứa lưỡi cắt chính và vectơ vận tốc cắt mà nó vuông góc với mặt đáy (gọi là mặt phẳng gia công).5 - Thành phần và cấu tạo chính của dụng cụ cắt Dao tiện giữ vai trò quan trọng trong quá trình gia công, nó trực tiếp tác động vào phôi để tách phoi ra khỏi bề mặt cần gia công. Thành phần của dao tiện điển hình, gồm các thành phần chính: 10 ▪ Thân dao: dùng để gá vào bàn dao, nó phải đủ độ bền và độ cứng vững.
Nhằm đảm bảo vị trí tương quan giữa dao và chi tiết. ▪ Đầu dao: là phần làm nhiệm vụ cắt gọt. Đầu dao được hợp thành bởi các bề mặt sau: + Mặt trước (1): là bề mặt của dao tiếp xúc với phoi và phoi trực tiếp trượt - trên trên đó và thoát ra ngoài. + Mặt sau chính (2): là bề mặt của dao đối diện với mặt đang gia công.
+ Mặt sau chính (3): là bề mặt của dao đối diện với mặt đã gia công. ▪ Lưỡi cắt chính: là giao tuyến của mặt trước và mặt sau chính, nó trực tiếp cắt vào kim loại. Độ dài lưỡi cắt chính có liên quan đến chiều sâu cắt và bề rộng của phoi. ▪ Lưỡi cắt phụ: là giao tuyến của mặt trước và mặt sau phụ, một phần lưỡi cắt phụ gần mũi dao cũng tham gia cắt với lưỡi cắt chính.
▪ Lưỡi cắt nối tiếp: (chỉ có một số loại dao tiện) là phần nối tiếp giữa lưỡi cắt chính và lưỡi cắt phụ. Khi không có lưỡi cắt nối tiếp dao tiện sẽ có mũi. Mũi dao có thể nhọn hoặc lượng tròn (bán kính mũi dao R =1-2mm). Các lưỡi cắt có thể thẳng hoặc cong và một đầu dao nên có thể có một hoặc hai lưỡi cắt phụ.
Một dao có thể có nhiều đầu dao nên có rất nhiều lưỡi cắt.6 - Các thông số bề mặt của dao tiện.6 - Thông số hình học của dao ở trạng thái tĩnh Để đảm bảo năng suất - chất lượng bề mặt gia công, dao cắt cần phải có hình dáng và góc độ hợp lý. Thông số hình học của dao được xét ở trạng thái tĩnh (khi dao chưa làm việc). Góc độ của dao được xét trên cơ sở: dao tiện đầu thẳng đặt vuông góc với phương chạy dao, mũi dao được gá ngang tâm phôi. Các thông số hình học của dao nhằm xác định vị trí các góc độ của dao nằm trên đầu dao.
Những thông số này được xác định ở tiết diện chính N – N, ở mặt đáy, ở tiết diện phụ Nı – Ni và trên mặt phẳng cắt gọt.7 - Thông số hình học của dao ở trạng thái tĩnh. ▪ Góc trước γ: là góc tạo thành giữa mặt trước và mặt đáy đo trong tiết diện chính N-N Góc trước có giá trị dương khi mặt trước thấp hơn mặt đáy tính từ mũi dao, có giá trị âm khi mặt trước cao hơn mặt đáy và bằng không khi mặt trước song song với mặt đáy. Khi góc trước lớn biến dạng phoi nhỏ, việc thoát phoi dễ dàng, lực cắt và công tiêu hao giảm, năng suất tăng. 12 ▪ Góc sau chính α: là góc tạo thành giữa mặt sau và mặt phẳng cắt gọt đo trong tiết diện chính.
Góc sau thường có giá trị dương.