ĐẶT VẤN ĐỀ Chuyển tiếp rừng (Forest transition) là khái niệm mô tả một bước ngoặt quan trọng trong xu hướng sử dụng đất của một quốc gia hoặc khu vực từ phá rừng sang trồng lại rừng, hoặc từ mất tỷ lệ che phủ rừng sang tăng tỷ lệ che phủ và thường được gắn với các quá trình phát triển kinh tế - xã hội và chuyển đổi nông nghiệp [118], [131], [134], [198], [144]. Việt Nam đã trải qua quá trình chuyển tiếp rừng này trong thời kỳ đầu những năm 1990 [143]. Sự thay đổi về tỷ lệ che phủ của rừng đã được hiểu là chuyển tiếp rừng tại Việt Nam [100], [101]. Từ tỷ lệ 43% năm 1943, tỷ lệ che phủ rừng cả nước đã giảm liên tục trong 40 năm tiếp theo và chỉ còn 22% vào năm 1983.
Việt Nam trở thành nước có nạn phá rừng nhanh nhất trong số các nước Đông Nam Á với khoảng hai phần ba tỷ lệ che phủ rừng bị mất đi trong giai đoạn này [127]. Bắt đầu từ năm 1992, chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực làm ổn định và phục hồi tỷ lệ che phủ rừng. Kể từ thời điểm này, tỷ lệ che phủ rừng của Việt Nam tăng đều đặn, từ 24,7% năm 1992 lên 38,2% năm 2005 [143]. Hiện tại, tỷ lệ che phủ rừng hàng năm ở Việt Nam vẫn tăng nhưng tốc độ tăng đã chậm lại so với thập kỷ trước.
Tính đến ngày 31/12/2022, diện tích đất có rừng đủ tiêu chuẩn để tính tỷ lệ che phủ toàn quốc là 13.108 ha, tỷ lệ che phủ là 42,02% [11]. Việt Nam được xác định đang ở cuối đường cong diễn biến rừng với mức tịnh tiến tăng về diện tích, tuy nhiên chất lượng rừng lại bị giảm, tỷ lệ che phủ rừng tăng chủ yếu nhờ rừng trồng và tái sinh tự nhiên. Các diện tích rừng trồng quy mô hộ gia đình được xem là nhân tố chính trong việc tăng tỷ lệ che phủ rừng ở Việt Nam [93]. Hộ gia đình đã tích cực tham gia vào trồng cây và hiện kiểm soát khoảng 70% diện tích rừng trồng cả nước [140], trong đó rừng trồng keo hiện chiếm hơn 40% [130].
Ở nhiều tỉnh của Việt Nam, một trong những nguyên nhân chính gây mất rừng và suy thoái rừng là do việc lấn chiếm rừng, chặt phá rừng để sản xuất nông nghiệp, phát triển rừng trồng keo, cây công nghiệp (cao su, cà phê, tiêu), khai thác gỗ nhiên liệu và khai thác gỗ bất hợp pháp do hậu quả của tình trạng quá đông dân cư và các hoạt động sinh kế dựa vào rừng của người dân địa phương [41], [42], [43], [57]. Trong khi chính sách quốc gia hỗ trợ để tăng tỷ lệ che phủ của rừng, các chương trình này lại đe dọa sinh kế của người dân địa phương, những người phụ thuộc nhiều vào đất canh tác để sinh sống. Người dân đã cố gắng thích nghi với môi trường và chính sách mới nhưng họ đã phải đối mặt với quá nhiều trở ngại đặt ra. Đất sản xuất lương thực đã bị thu hẹp vì sự thay đổi từ cây lương thực chính sang cây trồng công nghiệp như sắn, cao su hoặc keo mang lại thu nhập tiền mặt cao.
Do thiếu đất, các hộ gia đình tăng cường các hoạt động chặt hạ, cắt tỉa và đốt rừng để dọn đất canh tác. Kết quả là, rừng nguyên sinh bị suy thoái thành rừng thứ sinh và sự đa dạng sinh thái bị mất [149]. 1 Nam Đông và A Lưới là huyện miền núi thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế [44] có diện tích rừng và đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ lớn so với diện tích đất tự nhiên của huyện (Nam Đông: 85,95%; A Lưới: 89,44%) và tỷ lệ tỷ lệ che phủ rừng lớn (Nam Đông: 83,3%, A Lưới: 75,04%) [34], [35]. Tài nguyên rừng tại đây chịu sự tàn phá của chiến tranh và việc khai thác gỗ từ rừng tự nhiên để phục vụ nhu cầu xây dựng và phát triển kinh tế.
Ngoài ra, áp lực dân số cùng với nhu cầu lương thực đã thúc đẩy người dân địa phương tiếp cận các khu rừng nhiều hơn [175], [152]. Các nguyên nhân này dẫn đến sự suy thoái nhanh chóng của rừng tự nhiên. Để khắc phục tình trạng này, huyện Nam Đông và A Lưới đã thực hiện hàng loạt các dự án phát triển rừng trồng và cao su như Chương trình 327, dự án Đa dạng hóa Nông nghiệp, Dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp (WB3) (chỉ ở huyện Nam Đông), Dự án Hỗ trợ đầu tư trồng rừng sản xuất (Dự án 417) (chỉ ở huyện A Lưới) từ những năm 1990 đến năm 2015. Kết quả là đã hình thành rộng rãi các loài nhập nội trên đất rừng du canh du cư và bị suy thoái trước đây.
Những năm 2000, lợi ích từ rừng trồng keo cao và ổn định đã tạo động lực thúc đẩy người dân địa phương chuyển đổi mạnh mẽ đất lâm nghiệp sang trồng rừng [149], [171]. Việc phát triển rừng trồng còn dẫn đến tình trạng người dân xâm lấn rừng tự nhiên và một phần diện tích rừng bị chuyển đổi sang mục đích tác nương rẫy hoặc mở rộng diện tích canh tác. Mặc dù việc thực hiện các chính sách giao đất lâm nghiệp không có rừng cho các hộ gia đình để trồng rừng (từ 1995) và giao rừng tự nhiên cho nhóm hộ, cộng đồng quản lý (từ 2003) đã xúc tiến việc trao quyền cho người dân địa phương trong quản lý rừng với hi vọng có thể dẫn đến quản lý rừng và đất rừng bền vững [61], nhưng tài nguyên rừng tự nhiên của huyện Nam Đông và A Lưới đã và đang tiếp tục bị suy giảm và suy thoái. Theo Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Thừa Thiên Huế, tính riêng trong 5 năm từ 2010 đến 2015 huyện Nam Đông có 678,90 ha rừng bị mất và 359,29 ha rừng bị suy thoái, huyện A Lưới có 1.271,01 ha bị mất và 508,18 ha suy thoái rừng.
Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều diện tích rừng tại hai huyện này có khả năng mất rừng cao với khoảng 8.988 ha tại huyện A Lưới và 5.304 ha tại huyện Nam Đông, chiếm khoảng 11,4% diện tích rừng tự nhiên tại đây [172]. Nam Đông và A Lưới là hai huyện có tỷ lệ lớn người dân tộc thiểu số (DTTS) Cơ tu, Paco, Tà ôi, Pahy…sinh sống (A Lưới: 77,5%; Nam Đông: trên 70%), phần còn lại là người Kinh [81], [87]. Rừng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động sinh kế của người dân địa phương thông qua việc thu hái lâm sản ngoài gỗ (LSNG), khai thác gỗ và canh tác trên đất lâm nghiệp. Đặc biệt, các hộ nghèo và DTTS vẫn dựa vào rừng để kiếm sống thông qua các hoạt động như trồng trọt và thu hái LSNG [60].
Trong bối cảnh bùng nổ rừng trồng, người dân địa phương tìm mọi cách để có được đất, kể cả lấn chiếm rừng tự nhiên để chuyển sang trồng rừng [151], [157]. Điều này gây áp lực rất lớn trong công tác quản lý sử dụng đất lâm nghiệp, đặc biệt là bảo tồn rừng tự nhiên. Ngoài ra, việc đẩy mạnh chương trình trồng rừng tại địa phương cũng được đánh giá là có tác động nhiều đến tình 2 hình sử dụng đất đai và sinh kế của hộ gia đình. Hoạt động trồng rừng trên địa bàn càng phát triển, diện tích rừng trồng càng tăng thì diện tích đất canh tác nông nghiệp của địa phương càng giảm vì phần lớn rừng được trồng trên đất có khả năng canh tác nông nghiệp của địa phương.
Chính điều này đã khiến cho đất đai ở địa phương sử dụng không hiệu quả [66], [67]. Bên cạnh đó việc phát triển rừng trồng có nguy cơ tạo ra sự bất bình đẳng trong tiếp cận đất và thu nhập giữa các nhóm hộ gia đình (hộ người kinh và DTTS; hộ nghèo/cận nghèo và không nghèo) [156], [130]. Trong bối cảnh đó, việc đảm bảo phát triển sinh kế bền vững cho hộ gia đình ở miền núi trong điều kiện không để mất rừng và suy thoái rừng là một thách thức rất lớn hiện nay. Trước thực tế đó, đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình chuyển đổi sử dụng đất lâm nghiệp đến sinh kế hộ gia đình ở miền núi tỉnh Thừa Thiên Huế” đã được thực hiện.
Những đóng góp mới của luận án gồm: (1) Luận án đóng góp tài liệu về chuyển tiếp rừng quy mô địa phương bằng cách mô tả sự chuyển đổi đất nương rẫy, vườn hộ, cao su và rừng tự nhiên qua rừng trồng hộ gia đình; (2) Với việc áp dụng kết hợp lý thuyết Chuyển tiếp rừng và Khung sinh kế bền vững, luận án đã bổ sung vào phương pháp luận nghiên cứu, đánh giá quản lý sử dụng đất lâm nghiệp và sinh kế hộ gia đình miền núi tỉnh Thừa Thiên Huế; (3) Luận án đã xác định được các nhóm giải pháp có ý nghĩa tham khảo cho chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành trong việc quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, thực thi các chính sách quản lý bảo vệ rừng gắn với sinh kế người dân địa phương. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1) Mục tiêu chung Phân tích được quá trình chuyển đổi sự dụng đất lâm nghiệp nhằm cung cấp tài liệu về chuyển tiếp rừng quy mô địa phương, đồng thời đánh giá được ảnh hưởng của quá trình chuyển đổi sử dụng đất lâm nghiệp đến sinh kế hộ gia đình. Từ đó đề xuất các giải pháp góp phần quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp hợp lý và phát triển bền vững sinh kế hộ gia đình ở miền núi tỉnh Thừa Thiên Huế. 2) Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được quá trình chuyển đổi sử dụng đất lâm nghiệp và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi này tại miền núi tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phân tích được ảnh hưởng của quá trình chuyển đổi sự dụng đất lâm nghiệp đến sinh kế hộ gia đình ở miền núi tỉnh Thừa Thiến Huế. - Đề xuất các giải pháp sử dụng đất lâm nghiệp và quản lý bảo vệ rừng hiệu quả, đồng thời cải thiện sinh kế của người dân địa phương. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1) Ý nghĩa khoa học: Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận có liên quan và áp dụng lý thuyết Chuyển tiếp rừng kết hợp với Khung sinh kế bền vững để phân tích tác động qua lại giữa chuyển đổi sử dụng đất lâm nghiệp, sinh kế và tài nguyên rừng tại địa phương. Từ đó bổ sung vào phương pháp luận nghiên cứu, đánh giá quản lý sử dụng đất lâm nghiệp và sinh kế hộ gia đình ở miền núi tỉnh Thừa Thiên Huế, góp phần làm cơ sở để mở rộng áp dụng cho khu vực miền núi của các tỉnh miền Trung.