Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái Sinh sản là điều kiện để duy trì nòi giống của tất cả các cơ thể sinh vật sống. Ở gia súc, quá trình sinh sản không chỉ là sự truyền thông tin di truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, mà còn liên quan tới sự điều chỉnh nội tiết, đến các giai đoạn khác nhau của quá trình đó. Hình thức sinh sản ở gia súc là sinh sản hữu tính, ưu thế sinh học của nó là tạo ra khả năng tái tổ hợp các tính trạng di truyền tốt về năng suất và sức khỏe của cả bố lẫn mẹ, do đó, thế hệ sau có sức sống mạnh hơn, có năng suất cao hơn so với thế hệ trước.
Nhờ có sinh sản hữu tính mà quá trình chọn giống xảy ra nhanh và hiệu quả hơn (Trần Đình Miên và cs, 1982 [19]). Đặc điểm về khả năng sinh sản của lợn nái Quá trình hoạt động sinh sản của gia súc là do hệ thống thần kinh thể dịch của cơ thể điều tiết, chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền và ngoại cảnh (thời tiết, khí hậu, thức ăn, dinh dưỡng. Trong chăn nuôi người ta đánh giá lợn là loài gia súc có khả năng sinh sản cao, thành thục sớm, đẻ dễ và ít gặp khó khăn trong khi đẻ. Lợn cái nội 3 - 4 tháng tuổi đã động dục.
Lợn là loài gia súc đa thai, trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý có thể đẻ 1,8 - 2,4 lứa/năm và đạt 10 - 12 con/lứa. Lợn nái có số vú nhiều, khả năng tiết sữa cao, các giống nội thường có từ 10 vú trở lên, lợn Móng Cái thường có 12 - 16 vú. Thời gian chửa đẻ của lợn ngắn từ 113 - 114 ngày (Nguyễn Thiện và cs, 1998) [36] * Một số đặc điểm sinh lý của lợn nái chửa cần lưu ý: Theo Lê Hồng Mận (2002) [18]: Lợn nái chửa sau khi phối giống thụ thai, nhau thai phát triển nhờ vào sự cung cấp dinh dưỡng, hô hấp qua hệ thống tuần hoàn máu mẹ, đồng thời sừng tử cung cũng lớn lên theo nhịp độ n 5 phát triển của nhau thai và bào thai. Lợn mẹ có bào thai lớn thì lợn con sơ sinh cũng lớn.
Khối lượng lợn con chiếm 7 - 7,5/10 bào thai. Theo Lê Hồng Mận, Xuân Giao (2001) [17] đã khẳng định: Lợn nái thiếu dinh dưỡng đẻ ra con còi cọc, yếu, chống đỡ với các yếu tố bất lợi của môi trường kém. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, khối lượng thai nhi lúc sinh lớn gấp hai lần khối lượng bào thai lúc ba tháng. Thành phần hóa học của bào thai lợn cũng có sự thay đổi đáng kể theo sự tăng lên của tuổi.
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)[23]. Tỷ lệ nước có xu hướng giảm dần, trong khi đó, các thành phần như: lipit, protit và các chất khoáng có xu hướng tăng lên. Vì vậy, nuôi dưỡng lợn nái ở thời kỳ cuối rất quan trọng, nó quyết định đến khối lượng lợn sơ sinh. Theo tác giả này cho biết thì tính trong toàn bộ thời gian có chửa cơ thể mẹ tích lũy được 4000g protein (bình quân 30 - 40 g/con/ngày), những ngày cuối có thể lên tới 100g/ngày.
Nguyễn Quang Linh, (2005)[16] chỉ rõ: 80 ngày chửa đầu, thai còn bé, nhu cầu dinh dưỡng tăng lên không đáng kể, 34 ngày cuối của thai kỳ, thai phát triển rất nhanh đòi hỏi dinh dưỡng cung cấp cho con mẹ phải cao. Khả năng sản xuất của lợn nái Theo Nguyễn Thiện và cs (1998) [36]: Việc đánh giá khả năng sản xuất của lợn nái được thông qua các chỉ tiêu: 1. Khả năng sinh sản Khả năng sinh sản được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau: * Số con sơ sinh sống đến 24h/lứa đẻ: Trong vòng 24h sau khi đẻ những lợn con được sinh ra nếu không đạt trọng lượng sơ sinh trung bình của giống, không phát dục hoàn toàn, đầu to mông bé… thì sẽ bị chết, những lợn con chưa nhanh nhẹn dễ bị mẹ đè chết. Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng.
Nó nói lên khả năng đẻ nhiều con hay ít con của giống, nói lên kỹ thuật chăm sóc lợn nái có chửa và kỹ thuật thụ tinh của dẫn tinh viên. n 6 * Tỷ lệ sống Tỷ lệ sống được tính theo công thức: Số con sơ sinh sống đến 24h Tỷ lệ sống (%) = x 100 Số con đẻ ra còn sống Trong một ổ lợn nái thường đẻ ra 3 loại: - Loại đẻ ra còn sống: Số con sơ sinh sống đến 24h = Số con đẻ ra sống- Số con chết trong 24h - Loại thai non: là loại thai phát triển không hoàn toàn, đẻ ra như còn non tháng. Loại thai non đã chết trong thời gian có chửa và trước khi sinh ra. Do vậy, số thai non cao trong một lứa đẻ sẽ làm cho số lợn con sơ sinh trong lứa thấp.
- Loại thai gỗ: Là loại thai đã chết trong tử cung lúc 35 - 90 ngày tuổi. Thai chết ở giai đoạn này không gây sẩy thai mà các bào thai chết thường khô cứng lại. Số lợn con chết lúc sơ sinh, số thai non, số thai gỗ sẽ là nguyên nhân làm giảm số lượng lợn con sơ sinh sống đến 24h cho một lứa đẻ. * Số lợn con cai sữa trên lứa Là số lợn con được nuôi sống cho đến khi cai sữa mẹ.
Thời gian cai sữa dài hay ngắn phụ thuộc vào trình độ chế biến thức ăn cho lợn con. Số lợn con cai sữa trên lứa là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng quyết định năng suất của nghề chăn nuôi lợn. Nó phụ thuộc vào khả năng tiết sữa của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ cũng như khả năng hạn chế các yếu tố bệnh tật cho lợn con. Số con sống đến cai sữa Tỷ lệ nuôi sống (%) = x 100 Số lợn con để lại nuôi * Số lợn con cai sữa/nái/năm Chỉ tiêu này đánh giá tổng quát nhất đối với nghề nuôi lợn nái.
Nghề nuôi lợn nái có thể thu lãi hay không là nhờ số lượng lợn con cai sữa/nái/năm. n 7 Nếu tăng số lứa đẻ/nái/năm và tăng số lượng lợn con cai sữa trong mỗi lứa thì số lượng lợn con cai sữa/nái/năm sẽ cao. Chất lượng đàn con Theo Nguyễn Thiện và cs, (1998) [36] cho rằng việc đánh giá chất lượng đàn con dựa vào các chỉ tiêu như sau: * Khối lượng sơ sinh toàn ổ Là khối lượng được cân sau khi lợn con được đẻ ra, cắt rốn, lau khô và chưa cho bú sữa lần đầu. Khối lượng sơ sinh toàn ổ là chỉ tiêu đánh giá khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc quản lý và phòng bệnh cho lợn nái chửa.
* Khối lượng 21 ngày toàn ổ Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2000) [02]: Khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi là chỉ tiêu đánh giá khả năng cho sữa của lợn mẹ. Vì sản lượng sữa của lợn mẹ cao nhất lúc 21 ngày tuổi sau khi đẻ. Khối lượng toàn ổ cao thì sản lượng tiết sữa của lợn mẹ cao. Khôi lượng lợn con tăng lúc 21 ngày tuổi gấp 5 - 8 lần lúc sơ sinh.
Nó phụ thuộc vào khả năng tiết sữa và chọn làm giống của lợn nái. Thông tin do Hội chăn nuôi Việt Nam (2004) [12]. Khối lượng toàn ổ lúc cai sữa Tùy theo khối lượng lợn con khi cai sữa, thời gian bắt đầu cai sữa: 24, 28, 35 ngày, mà người ta chế biến loại thức ăn cho phù hợp. Khối lượng cai sữa có liên quan chặt chẽ đến khối lượng sơ sinh, làm nền tảng và là điểm xuất phát cho khối lượng xuất chuồng.
* Tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con Trong một lứa lợn, sự đồng đều giữa các cá thể trong đàn nói lên khả năng nuôi con của lợn mẹ, kỹ thuật chăm sóc và phòng dịch bệnh cho lợn n 8 con. Tỷ lệ đồng đều được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa cá thể có khối lượng thấp nhất trong đàn so với cá thể có khối lượng cao nhất trong đàn. Sự chênh lệch trọng lượng giữa hai cá thể này càng ít thì tỷ lệ đồng đều càng cao. Khoảng cách lứa đẻ Là thời gian để hoàn thành một chu kỳ sinh sản.
Bao gồm: Thời gian chửa + thời gian nuôi con + thời gian chờ động dục lại sau cai sữa và phối giống có chửa. Trong 3 yếu tố trên, thì thời gian mang thai là không thể thay đổi, còn thời gian nuôi con và thời gian chờ phối giống, có thể rút ngắn khoảng cách giữa hai lứa đẻ. Khả năng tiết sữa Khả năng tiết sữa của lợn mẹ là chỉ tiêu đánh giá khả năng nuôi con của lợn mẹ, đặc điểm của giống. Giống khác nhau thì khả năng tiết sữa cũng khác nhau.
Ngày nay người ta dùng phương pháp lấy khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi hoặc 45 ngày tuổi tùy theo thời gian cai sữa, làm chỉ tiêu đo khả năng tiết sữa của lợn mẹ. Khả năng tiết sữa của lợn mẹ tăng dần từ khi mới đẻ và đạt cao nhất ở ngày thứ 21, sau đó giảm dần. Để lợi dụng khả năng tiết sữa của lợn mẹ, người ta thường cho cai sữa sớm vào ngày thứ 21 hoặc ngày 28, hoặc ngày thứ 42…tùy theo trình độ chăn nuôi của từng cơ sở (Nguyễn Thiện và cs 1996) [35]). Theo Trần Văn Thịnh và cs 1982 [38] cho rằng thức ăn đầu tiên của lợn con là sữa đầu.
Sữa đầu có màu trong hơi vàng và đặc tiết ra 2 - 3 ngày đầu sau khi đẻ. Trong sữa đầu các thành phần hóa học đều đặc hơn sữa thường: lượng protein gấp 3 lần sữa thường (17 - 18% so với 5 - 6%). Trên 50% protein của sữa đầu là globulin, đặc biệt là γ - globulin. Hàm lượng γ - globulin giảm rất nhanh, sau 12 giờ đã giảm đi 3/4, γ - globulin là thành phần quan trọng tạo nên sức đề kháng chống đỡ bệnh tật của lợn con sơ sinh.
n 9 Theo Trần Văn Cừ, Nguyễn Khắc Khôi và cs, 1985 [2], lượng sữa của lợn mẹ liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của tuyến vú, thời kỳ có chửa cũng như sau đẻ một thời gian. Trong thời kỳ có chửa, sự phát triển của tuyến vú chịu tác động của một số hormon các tuyến nội tiết, tuyến sinh dục, tuyến yên, tuyến thượng thận. Sau khi đẻ nó phụ thuộc vào số lượng con. Qua nhiều thí nghiệm nghiên cứu cho thấy: lượng sữa mẹ thay đổi tùy theo mức độ dinh dưỡng, giống lợn, số lợn con… Trong thời kỳ tiết sữa của lợn mẹ (60 ngày) lượng sữa có sự thay đổi qua các tuần tuổi.
Lượng sữa cao nhất ở tuần thứ 2 và thứ 3 sau khi đẻ.