CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ SỰ HÀI LÒNG 1. Khái niệm dịch vụ 1. Định nghĩa dịch vụ Có nhiều định ngha về dịch vụ được đưa ra và theo các nhà nghiên cứu dịch vụ có thể hiểu là: Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công. Theo quan điểm kinh tế học: Bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ.và mang lại lợi nhuận.
Theo Valarie A Zeithaml và Mary J Bitner (2000): “dịch vụ là những hành vi, quá trnh và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. Theo nhà nghiên cứu marketing hiện đại Philip Kotler: “Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hnh và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Dịch vụ là hoạt động hoặc kết quả được một bên thực hiện hoặc cung cấp cho một bên khác.
Mặc dù quá trnh có thể là phải gắn liền với một sản phẩm hữu hnh, kết quả thực hiện chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định, vô hnh và thường không tạo ra sự thay đổi nào về sự sở hữu các yếu tố sản xuất Như vậy có thể thấy dịch vụ là hoạt động kinh tế mà tạo ra giá trị và cung cấp các lợi ích cho các khách hàng tại một thời gian và địa điểm cụ thể bằng cách đem tới sự thay đổi được mong đợi ở người tiếp nhận dịch vụ hoặc bên đại diện cho người tiếp nhận dịch vụ. Vai trò của dịch vụ trong nền kinh tế Hoạt động dịch vụ có vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ ngha ở nước ta: - Dịch vụ góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông, phân phối hàng hóa, thúc đẩy thương mại hàng hóa phát triển trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế. Thật vậy, dịch vụ chính là cầu nối giữa các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” trong quá trnh sản xuất hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm. 8 - Dịch vụ tạo điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển.
Thông qua hoạt động dịch vụ trên thị trường, các chủ thể kinh doanh mua bán được sản phẩm, góp phần tạo ra quá trnh tái sản xuất được tiến hành liên tục và như vậy các dịch vụ sẽ lưu thông, các dịch vụ được thông suốt. Có thể nói, nếu không có dịch vụ th sản xuất hàng hóa khó có thể phát triển được. - Sự tăng trưởng của các ngành dịch vụ còn là động lực cho sự phát triển kinh tế, cũng như có tác động tích cực đối với phân công lao động xã hội. Nền kinh tế càng phát triển th thương mại và dịch vụ càng phong phú, đa dạng.
Hiện nay, sự phát triển dịch vụ phản ánh trnh độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. - Thông qua mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, khả năng tiêu dùng, nâng cao mức tiêu thụ và hưởng thụ của cá nhân và doanh nghiệp cũng tăng lên góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường lao động và phân công lao động trong xã hội. Các đặc điểm của dịch vụ Tính vô hình Tính không Tính dễ biến tách rời khỏi động về chất nguồn cung lượng cấp Tính không sở Tính không hữu được thể lưu kho Hình 1.Sơ đồ Đặc điểm của dịch vụ (Nguồn: TS. Nguyễn Tiến Dũng (2019), Bài giảng PowerPoint Quản trị và marketing dịch vụ công, Trường ĐH Bách khoa Hà Nội).
- Tính vô hình (Intangibility): không thể nhn, nghe, ngửi hay sờ thấy được. Không tồn tại dưới dạng vật chất ngha là dịch vụ không có hnh hài rõ rệt. Các dịch vụ đều vô hnh, không thể thấy trước khi tiêu dùng; đây là một đặc điểm quan trọng của nhiều sản phẩm dịch vụ, đặc biệt là đối với các dịch vụ đắt tiền, ở 9 góc độ là hầu hết đều các dịch vụ đều không thể dễ dàng đo lường, chạm đến hay đánh giá tại điểm bán hàng trước khi sử dụng dịch vụ. - Tính không tách rời khỏi nguồn cung cấp (Inseparability): Dịch vụ thường được sản xuất ra và tiêu dùng đồng thời hay nói cách khác quá trnh sản xuất và quá trnh tiêu dùng diễn ra đồng thời.
Thiếu mặt này th sẽ không có mặt kia. Nếu dịch vụ do một người thực hiện, th người cung ứng là một bộ phận của dịch vụ đó. Điều này có ngha là hành động sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời với nhau, đòi hỏi cả nhà sản xuất và người tiêu dùng cùng tham gia tại địa điểm của nhà sản xuất (tức là đơn vị cung cấp dịch vụ, chẳng hạn như khách sạn), chứ không phải tại môi trường bản địa của người tiêu dùng. V khách hàng cũng có mặt khi dịch vụ được thực hiện nên sự tác động qua lại giữa người cung ứng và khách hàng là một tính chất đặc biệt.
Cả người cung ứng lẫn khách hàng đều ảnh hưởng đến kết quả dịch vụ, v vậy không chia cắt được dịch vụ hay nói cách khác dịch vụ có tính không chuyển giao sở hữu. - Tính không ổn định về chất lượng (Instability): không có chất lượng đồng nhất; Điều này cũng có ngha là hầu hết nhân viên của đơn vị cung cấp dịch vụ đều tiếp xúc với người tiêu dùng ở một mức độ nào đó và được khách hàng nhn nhận như một phần không thể tách rời khỏi sản phẩm dịch vụ đó. Chất lượng nhiều dịch vụ được xác định bởi thái độ và hành vi của nhân viên mà không thể đưa ra được những bảo đảm thông thường cũng như không thể có sự ép buộc về pháp lý. Chẳng hạn như không thể ép nhân viên phải mỉm cười với khách.
Một mục tiêu chính của hầu hết chiến lược marketing dịch vụ là tạo ra những cách thức để tách rời hành động mua sắm với hành động tiêu dùng. V tính chất này nên khó để đánh giá được chất lượng dịch vụ v nó phụ thuộc vào kỳ vọng của từng cá nhân người tiêu dùng dịch vụ và sự cảm nhận dịch vụ của người đó do người bán dịch vụ cung cấp và nó phụ thuộc rất nhiều vào người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng cung cấp dịch vụ đó, hay nói cách khác dịch vụ có tính cá nhân và chỉ sử dụng 1 lần không lặp lại được. - Tính không thể lưu kho (Instorability): không lập kho để lưu trữ như hàng hóa được, hoạt động cung cấp dịch vụ thường được ấn định về mặt thời gian và không gian và có một công suất phục vụ được ấn định trong ngày. Điều này có ngha là nếu không bán được công suất dịch vụ vào ngày đó th doanh thu tiềm năng có thể thu được từ công suất dịch vụ đó sẽ mất đi và không thể thu lại được.
Công suất chỉ trở nên hữu dụng khi khách hàng hiện diện tại địa điểm của nhà cung cấp dịch vụ. - Tính không sở hữu được (Ownership): mua dịch vụ chỉ là mua quyền sử dụng, không phải quyền sở hữu. Người mua chỉ được quyền sử dụng dịch vụ 10 tại một thời điểm, trong một khoảng thời gian nhất định, tại một địa điểm, khung cảnh xác định. Phân loại dịch vụ Lnh vực dịch vụ rất đa dạng.
Để có chính sách quản lý thích hợp, chúng ta cần phân loại dịch vụ theo một số tiêu thức nhất định. Có nhiều cách phân loại dịch vụ. Sau đây là một số cách phân loại chính. Phân loại theo vai trò của dịch vụ trong sản phẩm cung cấp cho khách hàng Ngày nay hầu hết các sản phẩm cung cấp cho khách hàng đều bao gồm 2 thành phần cấu thành là hàng hóa và dịch vụ.
Tùy vào vai trò của yếu tố dịch vụ mà ta có thể chia dịch vụ thành 2 loại chính. - Dịch vụ thuần túy: là loại dịch vụ có vai trò cốt lõi trong sản phẩm cung cấp cho khách hàng, không có hoặc hầu như không có sự tham gia của hàng hóa hữu hnh kèm theo: dịch vụ bảo hiểm, đào tạo, tư vấn pháp luật… - Dịch vụ bổ sung thêm: là các dịch vụ cung cấp thêm cho khách hàng (ngoài dịch vụ chính hoặc hàng hóa chính) làm tăng thêm lợi ích cho khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh cho nhà cung cấp dịch vụ: dịch vụ tư vấn cho khách hàng lựa chọn, dịch vụ khách hàng… 1. Phân loại theo đối tượng trực tiếp của dịch vụ Theo đối tượng trực tiếp của dịch vụ, ta có 4 loại dịch vụ sau: 11 Bảng 1.Bốn loại dịch vụ theo đối tượng tiếp nhận dịch vụ Đối tượng tiếp nhận dịch vụ Con người Vật thể Các dịch vụ dành cho cơ thể con Các dịch vụ dành cho tài sản của con người người - Chăm sóc sức khỏe - Chuyên chở hàng hóa - Chuyên chở khách - Sửa chữa công nghiệp - Dịch vụ thẩm mỹ - Dịch vụ gia đnh - Khách sạn, nhà hàng - Xây dựng, bưu chính Các dịch vụ dành cho tinh thần con Các dịch vụ dành cho quyền sở hữu người của con người - Giáo dục - Ngân hàng - Thông tin liên lạc - Tiết kiệm - Phát thanh truyền hnh - Bảo hiểm - Giải trí - Kế toán - Du lịch - Pháp luật (Nguồn: Nguyễn Thượng Thái (2007)“Quản trị marketing dịch vụ”, NXB Thông tin và truyền thông). Đối với các dịch vụ tác động vào con người, cần có sự tham gia của con người (khách hàng) trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ.
Do đó mối quan hệ giữa người cung cấp và người hưởng thụ dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng, quyết định đến sự thành bại của dịch vụ. Đây là loại dịch vụ tiếp xúc cao (hight contact services). Phân loại theo mức độ hữu hình của sản phẩm cung cấp cho khách hàng - Những vật phẩm hữu hnh kèm theo cung cấp cho khách hàng - Môi trường vật lý trong đó quá trnh tiêu dùng dịch vụ xảy ra (nơi chốn, trang thiết bị, người cung cấp dịch vụ). - Các yếu tố hữu hnh khác hiện diện trong quá trnh cung cấp dịch vụ (ví dụ như quá trnh tạo ra dịch vụ…) Dịch vụ ăn uống bao gồm thức ăn là các vật phẩm cung cấp cho thực khách.
Đây là loại sản phẩm hỗn hợp cả yếu tố vô hình và hữu hình. Do vậy, cần sử dụng lợi thế của yếu tố hữu hnh để tác động tích cực tới tâm lý khách hàng.