Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cây Râu mèo 1. Nguồn gốc, phân loại Cây Râu mèo hay còn gọi là Cây Bông Bạc, với danh pháp khoa học là Orthosiphon aristatus (Blume., Họ: Bạc hà (Lamiaceae), Bộ: Hoa môi (Lamiales), Lớp: Ngọc Lan (Magnoliopsida), Ngành: Ngọc Lan (Magnoliophyta). Ở Việt Nam, chi Orthosiphon có khoảng 40 loài trên thế giới, phân bố rải rác khắp các vùng nhiệt đới Châu Á, Châu Phi và Châu Dại Dương.
Vùng nhiệt đới Đông Nam Á được coi là nơi tập trung và có tính đa dạng cao về thành phần loài của chi, trong đó Việt Nam có 8 loài [1]. Phân loại: Giới (regnum) Plantae Bộ (ordo) Lamiales Họ (familia) Lamiaceae Chi (genus) Orthosiphon Loài (species) O. Đặc điểm thực vật học của cây Râu mèo. Râu mèo là cây thảo, sống lâu năm, cao khoảng 0,3 - 0,5m, có khi hơn.
Thân mảnh cứng, hình vuông, mọc đứng, thường có màu nâu tím, nhẵn hoặc có ít lông, ít phân cành. Lá mọc đối, hình trứng, dài 4 - 6 cm, rộng 2,5 - 4 cm, gốc tròn, đầu nhọn, mép khía răng to, gân lá hơi nổi rõ ở mặt dưới, cuống lá dài 3 - 4 cm [1]. Cụm hoa mọc thẳng ở ngọn thân và đầu cành, dài 8 - 10 cm, gồm 6 - 10 vòng, mỗi vòng có 6 hoa màu trắng hoặc hơi tím; lá bắc nhỏ rụng sớm; đài hình chuông có 5 răng, răng trên rộng, tõe ra ngoài; tràng hình ống hẹp, thẳng hoặc hơi cong, dài 2 cm, môi trên chia 3 thùy, môi dưới nguyên; nhị mọc thò ra ngời hoa, dài gấp 2 - 3 lần tràng, chỉ nhị mảnh, nhẵn; vòi nhụy dài hơn nhị [1]. Quả bế, tự, nhỏ, nhẵn.
Mùa hoa quả: tháng 4 – 7. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hình thái cây Râu mèo (A)_ Hoa Râu mèo; (B)_ Ảnh vẽ các bộ phân chi tiết của hoa Râu mèo: 1. Gốc thân và cành mang hoa; 2.
Đài mở với các tuyến; 5. Đặc điểm sinh thái của cây Râu mèo Râu mèo thích hợp với mọi loại đất, ưa khí hậu nóng, ẩm, sinh trưởng mạnh vào mua hè và mùa thu nhưng không chịu được úng. Cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, thường mọc trên đất giàu chất mùn ở ven rừng, gần bờ nước hoặc trong thung lũng. Độ cao phân bố của cây từ khoảng 10m (ở Phú Yên) đến 600m (ở Cao Bằng).
Cây sinh trưởng mạnh trong mùa xuân hè. Mùa đông có hiện tượng bán tàn lụi ở phần thân cành trên mặt đất. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt nhưng tỷ lệ nảy mầm thường rất thấp. Râu mèo tái sinh chồi khỏe, nhất là những phần còn lại sau khi bị cắt [1].
Giá trị dược liệu, công dụng Cây Râu mèo dược thu hái các bộ phận của toàn cây quanh năm, dùng tươi hay phơi khô. Lá Râu mèo chứa một saponin, một alcaloid, tinh dầu 0,2 - 0,6%, tanin, acid hữu cơ (acid tartric, acid citric và acid glycolic) và dầu béo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Saponin khi thủy phân cho sapogenin và đường là arabinose và glucose (hoặc fructose). Phần không xà phòng hóa của dầu béo gồm β- sitosterol và α- amyrin.
Hoạt tính của lá do có hàm lượng Kali cao (0,7 - 0,8%) và một lượng glycosid đắng là orthosiphonin [1]. Lá khô và ngọn tươi có hoa chứa các chất vô cơ khoảng 12% với hàm lượng Kali cao (600 - 700 mg/100g lá tươi), favonoid (sinensetin, 3’- hydroxy - 3, 6, 7, 4’-tetramethoxy flavon, tetramethylscutelarein), các dẫn chất của acid cafeic (chủ yếu là acid rosmarinic, acid 2,3- dicafeoyltartaric), inositol, phytosterol (β-sitosterol), saponin, tinh dầu 0,7% [1]. Cây râu mèo còn chứa methylripariochromen A, orthosiphol A 16,75%, carotenoid (α-caroten, β-caroten, 3-zeacaroten và cryptoxanthin).