NGHỊ ĐỊNH THƯ PHÂN GIỚI CẮM MỐC BIÊN GIỚI TRÊN ĐẤT LIỀN VIỆT NAM - TRUNG QUỐC GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA Năm 2009 Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (sau đây gọi tắt là “hai Bên”), căn cứ “Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” ký ngày 30 tháng 12 năm 1999, thông qua Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc (sau đây gọi tắt là “Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc”) triển khai công tác phân giới cắm mốc liên hợp từ năm 2000 đến năm 2009, xác định đường biên giới trên đất liền giữa hai nước trên thực địa (sau đây gọi tắt là “đường biên giới”). Để thể hiện thành quả phân giới cắm mốc, hai Bên quyết định ký kết Nghị định thư này. QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Cơ sở pháp lý, kỹ thuật của công tác phân giới cắm mốc là: 1.
“Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” ký ngày 30 tháng 12 năm 1999. “Hiệp định giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ” ký ngày 25 tháng 12 năm 2000. “Hiệp ước về xác định giao điểm đường biên giới giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” ký ngày 10 tháng 10 năm 2006. Biên bản đàm phán từ Vòng I đến Vòng III của Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc.
Biên bản đàm phán từ Vòng I đến Vòng XXXV cấp Chủ tịch Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc. Biên bản đàm phán từ Vòng I đến Vòng IV của Chuyên gia trong Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc. Biên bản đàm phán từ Vòng I đến Vòng XVII của Nhóm Chuyên gia trong Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc. Điểm khởi đầu đường biên giới là giao điểm đường biên giới giữa ba nước: nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (dưới đây gọi tắt là giao điểm đường biên giới ba nước) quy định trong “Hiệp ước về xác định giao điểm đường biên giới giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, điểm kết thúc đường biên giới là điểm thứ nhất của đường phân định lãnh hải trong vịnh Bắc Bộ giữa hai nước quy định trong “Hiệp định giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ”; tổng chiều dài đường biên giới là 1449,566km, trong đó đường biên giới trên đất liền là 1065,652km, đường biên giới nước là 383,914km.
Mô tả chi tiết hướng đi của đường biên giới được ghi ở Phần II của Nghị định thư này, đồng thời đường biên giới được thể hiện trên “Bản đồ biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, tỷ lệ 1:50 000 (sau đây gọi tắt là “Bản đồ biên giới”) (Phụ lục 1). Hai Bên đặt các mốc giới (mốc giới chính hoặc mốc giới phụ) trên đường biên giới các vị trí sau: 2 a. Nơi hướng đi của đường biên giới thay đổi rõ rệt; b. Nơi địa hình khó xác định, đường biên giới khó nhận biết; c.
Nơi giao nhau giữa đường bộ, đường sắt, sông suối với đường biên giới; d. Khu vực điểm dân cư quan trọng gần đường biên giới; e. Điểm hợp lưu hoặc điểm phân lưu giữa sông, suối nội địa với sông, suối biên giới; f. Nơi sông, suối biên giới dễ thay đổi dòng chảy; g.
Nơi thay đổi giữa đường biên giới nước và đường biên giới đất liền; h. Điểm cao cần thiết. Mốc giới chính và mốc giới phụ bao gồm mốc đơn, mốc đôi cùng số và mốc ba cùng số. Mốc giới đơn (mốc giới đơn chính hoặc mốc giới đơn phụ) được tạo thành bởi một cột mốc giới, đặt trực tiếp trên đường biên giới.
Mốc giới đôi cùng số (mốc giới đôi chính hoặc mốc giới đôi phụ) được tạo thành bởi hai cột mốc giới, đặt ở hai bên bờ sông biên giới. Mốc giới ba cùng số (mốc giới ba chính hoặc mốc giới ba phụ) được tạo thành bởi ba cột giới mốc, đặt ở trên bờ sông của hai Bên, nơi hợp lưu (nơi phân lưu) của sông, suối nội địa và sông, suối biên giới. Số hiệu mốc giới chính được đánh số đại thể từ Tây sang Đông theo thứ tự của số tự nhiên, lần lượt từ 1 đến 1378. Số hiệu mốc giới phụ thể hiện bằng phân số, tử số là số hiệu mốc giới chính phía trước, mẫu số là số hiệu của mốc giới phụ (đánh số đại thể từ Tây sang Đông, theo thứ tự từ 1 và tăng dần).
Số hiệu của mốc giới đơn (mốc giới đơn chính hoặc mốc giới đơn phụ) là số hiệu của mốc giới đơn đó; số hiệu của cột mốc giới đôi (mốc giới đôi chính hoặc mốc giới đôi phụ) là số hiệu của mốc giới đôi đó và số (1) hoặc (2); số hiệu của mốc giới ba (mốc giới ba chính hoặc mốc giới ba phụ) là số hiệu của mốc giới ba đó và số (1), (2) hoặc (3). 3 Cột mốc giới đôi đặt ở hai bờ sông, suối biên giới, con số trong số hiệu cột mốc đặt trên bờ sông phía Trung Quốc là (1), con số trong số hiệu cột mốc đặt trên bờ sông phía Việt Nam là (2). Cột mốc giới ba có số hiệu đánh số theo chiều kim đồng hồ. Khi cột mốc duy nhất đặt trên bờ sông, suối biên giới của một Bên, con số trong số hiệu của cột mốc giới đó là (1); hai cột mốc còn lại đặt trên bờ sông, suối biên giới của một bên, con số trong số hiệu của hai cột mốc giới đó lần lượt là (2) và (3).
Hai Bên đã thiết kế tất cả 1780 vị trí mốc giới, gồm 1378 vị trí mốc giới chính và 402 vị trí mốc giới phụ. Trong tổng số vị trí mốc giới chính có 1244 mốc đơn, 98 mốc đôi cùng số và 36 mốc ba cùng số. Trong tổng số vị trí mốc giới phụ có 383 mốc đơn, 18 mốc đôi cùng số và 1 mốc ba cùng số 7. Hai Bên đã cắm 1970 cột mốc, bao gồm 1627 cột mốc đơn, 232 cột mốc đôi và 111 cột mốc ba.
Trong các cột mốc giới đơn chính, cột mốc mang số mốc lẻ do phía Trung Quốc cắm, cột mốc mang số mốc chẵn do phía Việt Nam cắm. Trong các cột mốc giới đơn phụ, cột mốc mang số mốc có mẫu số là số lẻ về nguyên tắc là do phía Trung Quốc cắm, trong đó mốc số 50/1, 137/1, 353/1 do phía Việt Nam cắm, cột mốc mang số mốc có mẫu số là số chẵn do phía Việt Nam cắm. Trong các cột mốc giới đôi và cột mốc giới ba, các cột mốc nằm trong lãnh thổ Việt Nam do phía Việt Nam cắm, các cột mốc nằm trong lãnh thổ Trung Quốc do phía Trung Quốc cắm. Các cột mốc giới do phía Việt Nam cắm làm bằng đá hoa cương hoặc bê tông; các cột mốc giới do phía Trung Quốc cắm làm bằng đá hoa cương.
Mốc giới có 3 loại: mốc lớn, mốc trung và mốc nhỏ, trên mặt mốc đều khắc tên nước, số hiệu mốc giới và năm bắt đầu phân giới cắm mốc tại thực địa (2001), mốc lớn có gắn thêm quốc huy. Quy cách và mẫu của các cột mốc xem Phụ lục 1. Vị trí mỗi cột mốc giới đều được ghi chú trong Phần II của Nghị định thư này và được thể hiện trên bản đồ biên giới. Tọa độ vuông góc, tọa độ địa lý và các thông 4 tin khác của mỗi cột mốc giới đều được ghi chi tiết trong “Bảng đăng ký mốc giới” (Phụ lục 2) và “Bảng kê tọa độ, độ cao mốc giới” (Phụ lục 3).
Tọa độ địa lý trong Nghị định thư này sử dụng hệ tọa độ mặt đất năm 1984 (hệ tọa độ WGS-84); chuẩn độ cao sử dụng mô hình trường trọng lực toàn cầu năm 1996 (EGM96). Tọa độ vuông góc mặt phẳng của cột mốc giới liệt kê trong “Bảng đăng ký mốc giới” và “Bảng kê tọa độ và độ cao mốc giới” được tính toán, chuyển đổi từ tọa độ địa lý của cột mốc giới đó qua phép chiếu Gauss - Kruger, theo múi chiếu 60. Tất cả các cột mốc đều có một bộ thành quả tọa độ vuông góc mặt phẳng tính toán, chuyển đổi theo đường kinh tuyến trung ương 1050 kinh độ Đông; các cột mốc nằm ở 1080 kinh độ Đông về Đông có thêm bộ thành quả tọa độ vuông góc mặt phẳng được tính toán, chuyển đổi theo đường kinh tuyến trung ương 1110 kinh độ Đông. Độ cao mốc giới là độ cao mặt đất tự nhiên hoặc mặt đất nhân tạo của vị trí mốc giới đó, được tính toán bằng độ cao đỉnh mốc giới trừ đi chiều cao của mốc giới đó.
Độ cao của đỉnh cột mốc giới được tính bằng cách lấy độ cao mặt đất trong hệ thống tọa độ WGS-84 của cột mốc giới đó trừ đi độ cao dị thường. Độ cao dị thường được tính toán căn cứ theo tọa độ mặt đất của cột mốc đó thông qua mô hình EGM96. Tọa độ địa lý của cột mốc giới lấy đến 0,001”; độ cao và tọa độ mặt phẳng vuông góc lấy đến 0,01m; góc phương vị giữa các mốc giới (cột mốc) liền kề, các mốc đôi, mốc ba cùng số lấy đến 1”, khoảng cách lấy đến 0,01m. Khoảng cách từ mỗi cột mốc giới đôi, cột mốc giới ba đến đường biên giới và từ mỗi cột mốc giới ba đến điểm hợp lưu (điểm phân lưu) trên sông biên giới và sông nội địa đo ở thực địa, lấy đến 0,01m.
Các điểm đặc trưng mới tăng thêm (điểm chuyển hướng của đường biên giới hoặc điểm địa hình đặc trưng) trên đường biên giới được biểu thị bằng điểm A, B hoặc độ cao (lấy đến 1m) trong Nghị định thư này được đo tại thực địa hoặc đo trên bản đồ biên giới.