MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Vào tháng 12/2019, Dịch Viêm đường hô hấp cấp (COVID-19) do virus Corona gây ra lần đầu tiên được phát hiện tại Vũ Hán (Trung Quốc) và ngay sau đó đã nhanh chóng lây lan trên toàn thế giới, gây ra một cuộc khủng hoảng y tế tồi tệ nhất trong lịch sử hiện đại. Hàng chục quốc gia bị nhấn chìm trong làn sóng dịch bệnh, nền kinh tế của hàng trăm đất nước bị ảnh hưởng, cuộc sống của hàng tỉ người dân trên toàn cầu bị xáo trộn hoàn toàn. Cho đến nay, mặc dù đã qua gần 2 năm, nhưng đại dịch COVID-19 vẫn tiếp tục là một cơn ác mộng đe dọa đến mọi mặt đời sống của nhân loại.
Kế hoạch đẩy lùi dịch bệnh cũng trở nên khó khăn hơn bởi sự xuất hiện của siêu biến chủng Delta và gần đây nhất là biến thể Omicron. Theo số liệu thống kê tính đến ngày 22/12/2021, trên thế giới có khoảng 275.847 ca nhiễm, trong đó có 247.902 ca khỏi bệnh và 5.644 ca tử vong1. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi dịch COVID-19. Ghi nhận ca mắc đầu tiên vào ngày 23/01/2020, hiện Việt Nam đã trải qua tổng cộng 3 đợt bùng phát đại dịch và vẫn đang tiếp tục đối mặt với làn sóng dịch thứ 4.
Đặc biệt, đợt dịch thứ 4 gây ra bởi biến thể Delta đã làm thay đổi toàn diện tình hình dịch bệnh tại Việt Nam. Với mức độ lây nhiễm nhanh và mạnh hơn, nồng độ virus trong dịch đường hô hấp cao hơn gấp 1000 lần so với chủng cũ, biến thể này đã khiến Thành phố Hồ Chí Minh - biểu tượng đô thị năng động với hệ thống y tế mạnh nhất nhì cả nước trở thành chiến trường khốc liệt nhất. Bộ Y Tế đã nhận định biến thể Delta đã “làm đảo ngược các thành quả phòng chống dịch trên thế giới. Tính đến ngày 22/12/2021, Việt Nam có tổng cộng 1.780 ca mắc, trong đó có 1.690 ca khỏi bệnh và hơn 30.000 ca tử vong2.
Trong khi thế giới đang phải gồng mình lên chiến đấu với sự lây lan của dịch bệnh COVID-19, thì có một loại virus nguy hiểm không kém cũng lặng lẽ lan truyền với tốc độ chóng mặt, đó chính là virus “tin giả”. Sự xuất hiện của virus Corona đã tạo nên một môi trường hoàn hảo cho virus mang tên “tin giả” 1 có cơ hội bùng phát với quy mô lớn chưa từng thấy. Giữa tháng 02/2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tuyên bố: “Song hành cùng đại dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra còn có một đại dịch thông tin (infodemic)”.3 Các tin giả về dịch bệnh được lan truyền một cách cố ý đã làm nhiễu loạn thông tin, gây tâm lý hoang mang trong cộng đồng xã hội, đồng thời ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ, hành vi của mỗi công dân. Điều này gây ra những khó khăn cho công tác phòng, chống dịch của các quốc gia trên thế giới.
Mặt khác, có thể thấy, truyền thông giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin và định hướng dư luận xã hội. Các phương tiện truyền thông quốc gia và xuyên quốc gia, mạng thông tin toàn cầu, trong đó đáng chú ý là truyền hình, báo chí và mạng xã hội có tác động mạnh mẽ đến tâm lý, thế giới quan, hành vi. của người dân trên khắp thế giới. Bởi vậy, trong thời kỳ khủng hoảng thông tin về dịch bệnh như hiện nay, truyền thông dễ dàng được sử dụng như một vũ khí chính trị, nhằm chống phá chính phủ và phá hoại các nỗ lực y tế cộng đồng.
Điều này đặt ra yêu cầu cho mỗi công dân phải tự nhận thức và nâng cao năng lực truyền thông (media literacy) của mình về tin giả liên quan đến COVID-19. Trong khi năng lực truyền thông đã được nghiên cứu trên thế giới từ khoảng vài chục năm trước, thì tại Việt Nam, đây vẫn là một khái niệm mới mẻ, chưa được biết đến rộng rãi. Tuy nhiên, trước tốc độ lan truyền nhanh chóng của những thông tin sai sự thật về dịch bệnh, việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng năng lực truyền thông của người Việt trở thành một nhu cầu cấp thiết. Việc nghiên cứu này sẽ giúp tìm ra những điểm còn hạn chế, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực truyền thông của người dân, giảm thiểu những hậu quả do việc lan truyền các thông tin chưa được kiểm chứng mang lại.
Là một bộ phận chiếm tỉ lệ lớn trong dân số Việt Nam, giới trẻ nước ta được kỳ vọng sẽ trở thành những cá nhân ưu tú nhất, cùng đóng góp sức lực giúp đất nước phát triển trong tương lai. Kể từ khi virus Corona xuất hiện tại 2 Việt Nam đến nay, thế hệ trẻ giữ vai trò là lực lượng nòng cốt trong công tác tăng cường và tham gia hỗ trợ phòng chống dịch bệnh. Tuy nhiên, việc sống trong kỷ nguyên kỹ thuật số cùng với sự phụ thuộc quá mức vào Internet và các phương tiện truyền thông, cũng như sự thiếu hụt trong việc nhận biết và đánh giá thông tin đã khiến giới trẻ trở thành nhóm đối tượng chịu tác động nhiều nhất trong thời kỳ bùng nổ tin giả liên quan đến dịch COVID-19 như hiện nay. Bởi vậy, để thực hiện mục tiêu giảm thiểu những ảnh hưởng mà tin giả mang lại, đồng thời nâng cao nhận thức và thúc đẩy toàn dân thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ bản thân, bảo vệ cộng đồng, Đảng và Nhà nước cần tập trung trau dồi khả năng tiếp cận, nhận diện và đánh giá các thông tin, đặc biệt là thông tin giả của thế hệ trẻ.
Đối với những bạn trẻ hiện đang theo học ngành Báo chí - Truyền thông - những ngành học đòi hỏi cao về độ nhạy bén với thông tin, thì việc nâng cao năng lực truyền thông lại càng cấp thiết hơn bao giờ hết. Trước tình hình đó, nhóm nghiên cứu quyết định chọn đề tài cho nghiên cứu khoa học là: “Thực trạng năng lực truyền thông của sinh viên ngành Báo chí - Truyền thông và những ngành khác tại ba trường đại học ở Hà Nội (Học viện Ngoại giao, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn) về vấn đề tin giả liên quan đến COVID-19”. Qua đó, bài nghiên cứu sẽ làm rõ các câu hỏi: Sinh viên chủ yếu tiếp cận thông tin giả về dịch COVID-19 từ nguồn nào? Sinh viên có năng lực ở mức độ nào trong việc tiếp cận thông tin; nhận diện, đánh giá; và phản hồi trước các tin giả về dịch COVID-19? Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác nhau giữa năng lực truyền thông của sinh viên ngành Báo chí - Truyền thông với những ngành khác tại ba trường đại học ở Hà Nội về vấn đề tin giả liên quan đến COVID-19. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 2.
Nhóm tài liệu về lý thuyết năng lực truyền thông Nghiên cứu “Understanding new media literacy: An explorative theoretical framework” (Tzu-Bin Lin, Jen-Yi Li, Feng Deng và Ling Lee) cung 3 cấp khung lý thuyết để định nghĩa khái niệm năng lực truyền thông (media literacy) đối với các phương tiện truyền thông mới (new media). Dựa trên các cơ sở lý luận sẵn có và lý thuyết về sinh thái học truyền thông (media ecology), nghiên cứu được phát triển nhằm làm rõ hơn về phương tiện truyền thông mới. Đồng thời nghiên cứu cũng bàn luận về đặc điểm của truyền thông mới và sự phát triển của năng lực truyền thông. Nghiên cứu “Literacy for the 21st Century” (T.
Jolls) tập trung chủ yếu vào các lý thuyết của năng lực truyền thông, tầm quan trọng của việc giáo dục về năng lực truyền thông hiện nay, sự khác biệt giữa thế kỷ XXI và các thế kỷ trước, từ đó lý giải tầm quan trọng của năng lực truyền thông trong thế kỷ XXI. Trong nghiên cứu “News literacy, social media behaviors, and skepticism toward information on social media” (E. Tully), nhận thấy được sự lo ngại ngày càng tăng về thông tin sai lệch trên phương tiện truyền thông xã hội, tác giả đã nghiên cứu khả năng hiểu biết, xem và chia sẻ tin tức trên mạng xã hội cũng như sự phân biệt các tin thật - giả trên nền tảng này. Từ đó, nghiên cứu cho thấy năng lực truyền thông đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhận thức về thông tin khi tiếp nhận và chia sẻ cho những người khác.
Nghiên cứu “The Challenges of Assessing Media Literacy Education. Journal of Media Literacy Education” (E. Saxon) khám phá các quan điểm được truyền lại của những người đi trước về truyền thông để tiến hành khảo sát các chuyên gia và học giả hiểu biết về truyền thông từ khắp nơi trên thế giới. Các phát hiện cung cấp cái nhìn tổng quan về những thách thức của việc giáo dục về năng lực truyền thông hiện nay mà những người này gặp phải.
Bài viết “Who endorses conspiracy theories? A moderated mediation model of Chinese and international social media use, media skepticism, need for cognition, and COVID-19 conspiracy theory endorsement in China” 4 (YanSu, Danielle Ka Lai Lee, Xizhu Xiao, Wei Li, Wenxuan Shu) tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của truyền thông tâm lý và các hành vi giao tiếp đến việc ủng hộ các thuyết âm mưu (Conspiracy theory endorsement - CTE) về COVID- 19 của người dân Trung Quốc đồng thời mở rộng lý thuyết CTE vào bối cảnh lãnh đạo của Trung Quốc và giải thích các cơ chế lan truyền các thuyết âm mưu trong một cuộc khủng hoảng y tế công cộng. Ngoài ra, nhóm thực hiện còn nghiên cứu các sách và bài viết trực tuyến khác liên quan đến năng lực truyền thông như: “Giáo trình truyền thông và năng lực thông tin cho giáo viên”; “Thông hiểu truyền thông (media literacy) là gì? Tại sao nó lại quan trọng?” ; “Media Literacy and the Challenge of New Information and Communication Technologies”; “A Conceptual Analysis on Media Literacy”; “The Core Concepts: Fundamental to Media Literacy Yesterday, Today and Tomorrow”; “Examining how media literacy and personality factors predict skepticism toward alcohol advertising”; “Historical Roots of Media Literacy”, “Media literacy: an alternative to censorship”; “The Challenges of Assessing Media Literacy Education”; “The changing nature and uses of media literacy”; “Fundamental to Media Literacy Yesterday, Today and Tomorrow”; “Media Literacy: The Literacy Skill for the 21st Century”. Nhóm tài liệu về lý thuyết tin giả Nghiên cứu “Defining “Fake News”: A typology of scholarly definitions” (Edson C., Zheng Wei Lim & Richard Ling) đưa ra các khái niệm cơ bản về mạng xã hội, tin, tin giả và hệ thống phân loại các loại tin. Dựa trên các nghiên cứu đi trước cùng chủ đề, nhóm tác giả đưa ra kết luận rằng những chủ thể truyền thông cũng có vai trò trong việc tin giả hoành hành.
Nghiên cứu “What Is Fake News?