CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÍ LUẬN VE NĂNG LỰC CẠNH CANH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu: Dệt may vốn là một trong những mặt hàng truyền thống không chỉ mang lại giá trị cao về kinh tế — xã hội cho Việt Nam mà còn đóng góp quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa — hiện đại hóa đất nước. Sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua không ngừng được tăng lên cả về sỐ lượng, chủng loại va gia tri kim ngạch xuất khâu, đưa Việt Nam trở thành một trong 10 quốc gia có kim ngạch xuất khâu dệt may dẫn đầu thế giới. Do vị trí quan trọng của ngành đệt may trong nền kinh tế quốc dân và những biến động không ngừng của tình hình kinh tế thế giới nên vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành đã và đang nhận được sự quan tâm, chú ý của đông đảo các cấp, các ngành, các nha quản lý và các nhà khoa hoc.
Cho đến nay đã có rất nhiều cuộc thảo luận, buổi hội nghị hội thảo, công trình nghiên cứu về chủ dé này; trong số đó có một số bài nghiên cứu tiêu biéu đã được đăng trên các báo, tạp chí như: Dương Thị Thúy Hà, 2010. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may Việt Nam. Kinh tế và Dự báo, số 15, trang 3. Tac giả đã phân tích, đánh giá thực trạng cua hang dệt may Việt Nam trong giai đoạn từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO đến năm 2010.
Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dét may Việt Nam trên trường quốc tế. Trong đó có một số giải pháp thuộc về nhà nước như: Hoan thiện môi trường kinh tế, pháp luật; chính sách huy động vốn; nâng cao hiệu quả hoạt động của Hiệp hội dét may; và một số giải pháp về phía ngành là: tổ chức hệ thống thông tin; đây mạnh công tác xúc tiến thương mại, phát triển nguồn nhân lực, tăng cường liên kết doanh nghiệp, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Nguyễn Thùy Lan, 2010. Năng lực cạnh tranh của ngành Dệt — May Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Kinh tế thé giới và quan hệ kinh tế quốc tế. Tác giả nghiên cứu những van dé lý luận co bản về năng lực cạnh tranh, đánh giá sức cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam trên các khía cạnh: cạnh tranh nội lực và so với đối thủ. Từ đó thấy được những mặt mạnh và những mặt còn tôn tại của ngành, đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của ngành dệt — may Việt Nam trong những năm từ sau 2010. Sức cạnh tranh của sản phẩm dét — may ở tam ngành công nghiệp và doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Tác giả chỉ đề cập đến tính cạnh tranh của sản phẩm dệt — may Việt Nam so với một số đối thủ tiêu biểu như Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước châu Á khác trên thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản và Đông Âu. Võ Phước Tan, 2007. Các giải pháp chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam. Tạp chí Phát triển kinh tế: Trường ĐH Kinh tế TP.
Hồ Chí Minh, số 3, trang 4. Bài viết đã đánh giá thực trạng của hàng dệt may Việt Nam. Tác giả cho rằng bộ máy hành chính nước ta cồng kénh với các yêu cầu về thủ tục hành chính rườm rà và phức tạp là một trở ngại cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngành kinh tế. Sự chậm ché trong việc phê duyệt, cấp phép đầu tư cho các dự án khiến các dự án sản xuất rơi vào tình trạng ngưng đọng vốn lâu và kém hiệu quả.
Ngoài ra, cơ chế quản lý xuất nhập khẩu với nhiều loại thủ tục xuất nhập khâu phức tạp cũng ảnh hưởng đến xuất khải của ngành dét may. Ví dụ như một số mặt hàng và nguyên liệu của ngành dệt may được nhập khẩu thường xuyên, nhưng mỗi lần nhập lại phải qua các khâu kiểm định chất lượng với thời gian giám định kéo dài làm phát sinh chi phí lưu kho, chậm tiến độ sản xuất, làm giảm khả năng cạnh tranh trong khi mặt hàng dệt may lại mang tính thời vụ ngắn hạn. Xuất phát từ thực tiễn và tầm quan trọng của ngành công nghiệp đệt may đối với sự phát triển kinh tế, đặc biệt là trong bối cảnh nước ta đã là thành viên của WTO, người viết đã kiến nghị và đề xuất một số giải pháp chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thé giới. Nguyễn Bang Việt, 2012.
Năng lực cạnh tranh hàng dét may xuất khâu của Việt Nam sang Liên minh Châu Âu (EU) trong bối cảnh hội nhập WTO. Kinh tế thé giới và Quan hệ kinh tế quốc tế. Việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO và Khu vực mậu dịch tự do AFTA đem đến cho các doanh nghiệp Việt Nam nhiều cơ hội cũng như nhiều thách thức. Sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam có thể vươn ra tam thế giới.
Doanh nghiệp Việt Nam có thé tìm kiếm thi phan cho sản pham của mình, nhưng phải nâng cao năng lực dé có thé đương đầu với các đối thủ đến từ các quốc gia sản xuất nhiều sản phẩm dét may tryén thống như Trung Quốc, Hàn Quốc. Bài viết tập trung đưa ra giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam dé có thé cạnh tranh được với các doanh nghiệp dệt may khác trên thị trường EU trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt. Các công trình nghiên cứu nói trên đã góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về cạnh tranh và đưa ra những cái nhìn tổng quan về thực trạng ngành dệt may Việt Nam đang ở mức độ phát triển ra sao, các giải pháp các giải pháp đây mạnh xuất khâu dệt may Việt Nam nên như thế nào. Một số nghiên cứu đã đề cập đến năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam nhưng mới chỉ tập trung vào sức cạnh tranh nội lực của ngành thông qua thực trạng xuât khâu dệt may vào một sô thị trường trọng diém mà chưa đi vào xem xét toàn diện và đầy đủ các tố về yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu, các ngành hỗ trợ và bối cảnh cạnh tranh, chiến lược và cấu trúc doanh nghiệp, sự hỗ trợ của chính phủ và yếu tố thời cơ.
Trong khi đó các yếu tố này có mối tương quan mật thiết với nhau và chúng tác động qua lại lẫn nhau. Muốn đạt được thành công cao nhất trong lĩnh vực may mặc thì Việt Nam phải có các nhân tố nay ở trạng thái thuận lợi nhất. Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là một khái niệm phô biến nhưng ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội khái niệm cạnh tranh được tiếp cận và trình bày dưới nhiều góc độ khác nhau.
Từ góc độ đơn giản, mang tính tổng quát thì có thé hiểu cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm vì mục đích giành được sự ton tai, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vi, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác. Dưới thời Chủ nghĩa tư bản phát triển vượt bậc, Marx đã quan niệm: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật điều kiện thuận lợi trong sản xuất và mua bán hàng hóa đề thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Nghiên cứu sâu thêm về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Marx đã tìm ra quy luật cạnh tranh cơ bản là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành. Quy luật đó là nếu ngành nào hoặc lĩnh vực nào có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ có nhiều người dé ý và tham gia; ngược lai, những ngành hoặc lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận thấp sẽ có sự thu hẹp về quy mô và sự rút lui của các nhà đầu tư.
Tuy nhiên, sự tham gia hay rút lui của các nhà đầu tư không phải là đễ dàng, vội vã một sớm một chiều mà là cả một chiến lược lâu dài đòi hỏi sự nghiên cứu, tính toán kỹ lưỡng. Chủ nghĩa tư bản phát triển đến đỉnh điểm thì chuyền sang thời kỳ Dé quốc chủ nghĩa rồi sau đó suy vong. Ngày nay nền kinh tế thế giới đã dần đi vào quỹ đạo của sự ôn định và xu hướng chính là hội nhập, hòa đồng giữa các nên kinh tế trong một cơ chế hoạt động mang tính thị trường năng động và có sự quản lý điều tiết của nhà nước nên khái niệm cạnh tranh mat dan đi tính giai cấp, tinh chính trị nhưng về bản chất vẫn không thay đồi. Cạnh tranh vẫn là sự đấu tranh gay gắt, sự ganh đua giữa các tô chức, các doanh nghiệp nhằm đạt được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh hay lợi nhuận.
Dưới góc độ kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thé trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hang hóa dé từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thé xảy ra giữa những người sản xuất với những người tiêu ding khi người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ; giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất dé có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ. Cạnh tranh là một quy luật khách quan của nên sản xuất hàng hóa, là một yếu tô trong cơ chế vận động của thị trường. Sản xuất hàng hóa càng phát triển, hàng hóa bán ra càng nhiều, số lượng người cung ứng càng đông thì cạnh tranh canh gay gắt.
Kết quả trong cạnh tranh là sẽ có một số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường, trong khi đó một số doanh nghiệp sẽ tồn tại và phát triển hơn nữa. Cũng chính nhờ sự cạnh tranh không ngừng mà nền kinh tế thị trường vận động theo hướng ngày càng nâng cao năng suất lao động xã hội. Đó cũng là yếu tố đảm bảo cho sự thành công của mỗi quốc gia trên con đường phát triển. Ngày nay, hầu như tất cả các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh, coi cạnh tranh là một tất yếu khách quan.