phần mở đầu, kết luận luận văn chia làm 3 chƣơng Chƣơng 1. Lý luận chung về công tác quản lý nhà nƣớc về thuế trong lĩnh vực vận tải đƣờng bộ. Thực trạng công tác quản lý nhà nƣớc về nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp vận tải hàng hóa đƣờng bộ tại Hải Phòng. Một số biện pháp nâng cao vai trò quản lý nhà nƣớc trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp vận tải hàng hóa đƣờng bộ tại thành phố Hải Phòng.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THUẾ TRONG LĨNH VỰC VẬN TẢI ĐƢỜNG BỘ 1. Những vấn đề chung về thuế 1. Khái niệm, đặc điểm, chức năng, vai trò của thuế Thuế luôn gắn liền với sự tồn tại, phát triển của nhà nƣớc và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Quản lý thuế là một trong những hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc nhằm thực hiện các mục tiêu đặt ra cho thuế trên cơ sở tổ chức bộ máy quản lý thuế theo mô hình quản lý phù hợp từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội.
Quản lý thuế đƣợc thực hiện bằng các quy trình nghiệp vụ cụ thể theo các nguyên tắc nhất định trên cơ sở thông tin có chất lƣợng thu đƣợc từ hệ thống bảo đảm thông tin quản lý thuế nhằm phát huy hiệu lực và hiệu quả của cơ chế hành thuế[8]. Khái niệm thuế Sự ra đời của thuế là một tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nƣớc[8]. Về kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó nhà nƣớc sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tƣ sang khu vực công; Về phân phối thu nhập, thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân[8]. Về ngƣời nộp thuế, thuế đƣợc coi là khoản đóng góp bắt buộc; Vậy: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các pháp nhân, thể nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội[8].
Đặc điểm của Thuế - Thuế luôn gắn liền với quyền lực Nhà nƣớc: quá trình động viên nguồn thu từ thuế cho nhà nƣớc là quá trình chuyển giao quyền sở hữu một bộ phận thu nhập của các pháp nhân và thể nhân thành quyền sở hữu của nhà nƣớc; do vậy đặc điểm này đƣợc thể chế hóa trong hiến pháp, pháp luật của mọi quốc gia[6]. Ở nƣớc ta, Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã đƣợc quy định trong Hiến Pháp: “Các cơ sở SXKD thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nƣớc, đều bình đẳng trƣớc pháp luật. “Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật”[8]. - Thuế là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cƣ bắt buộc phải nộp cho nhà nƣớc[8].
Thu thuế ở công dân này, lĩnh vực này, địa phƣơng này không nhất thiết phải trực tiếp chi lại cho công dân đó, lĩnh vực hay địa phƣơng đó, cũng không nhất thiết đƣa tất cả nguồn thu đƣợc từ thuế vào đầu tƣ phát triển sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ mà có thể trả lại ở những mức độ khác nhau, hình thức khác nhau thông qua chi cho những khoản khác, lĩnh vực khác nhƣ trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp ngƣời nghèo… 1. Chức năng, vai trò của thuế - Huy động nguồn lực tài chính cho nhà nƣớc: trong lịch sử phát triển của xã hội, kể từ khi nhà nƣớc hình thành, chính quyền của bất cứ nhà nƣớc nào thì cũng coi chính sách thuế là một quốc sách để đảm bảo sự sống còn của tổ chức chính quyền nhà nƣớc đó và điều chỉnh các hoạt động kinh tế xã hội; sở dĩ nhƣ vậy là vì thuế đóng một vai trò chủ yếu và quyết định đối với NSNN đồng thời còn quyết định đến khả năng chi của ngân sách. 7 Đối với nƣớc ta, xác định thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, tỷ lệ huy động của thuế, phí hàng năm luôn ở mức 21% đến 23% GDP; tỷ lệ huy động phù hợp giúp nƣớc ta duy trì tốc độ tăng trƣởng kinh tế khá cao trong nhiều năm, quốc phòng, an ninh đƣợc ổn định và bảo đảm an sinh xã hội[2]. Tại bản Báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 đƣợc Ủy ban Kinh tế của Quốc hội công bố: “tổng thu ngân sách nhà nƣớc khá ổn định trong giai đoạn 2007- 2011, vào khoảng 29% GDP, nếu chỉ tính thu từ thuế và phí thì con số này là 26,3%; khi loại trừ dầu thô, số thu còn khoảng 21,6% GDP” - (dẫn quyết toán ngân sách nhà nƣớc của Bộ Tài chính).
Trong năm 2015, tổng thu cân đối NSNN thực hiện tháng 9 đạt 61,3 nghìn tỷ đồng; lũy kế thu 9 tháng đạt 683 nghìn tỷ đồng, bằng 75% dự toán, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2014.[2] - Điều tiết vĩ mô nền kinh tế. + Điều chỉnh chu kỳ nền kinh tế: Nhà nƣớc đã sử dụng thuế để điều chỉnh chu kỳ nền kinh tế nhƣ miễn, giảm thuế; Thuế có vai trò điều chỉnh chu kỳ sản xuất kinh doanh: với biểu hiện của nền kinh tế suy thoái, tiêu điều, nhà nƣớc dùng công cụ thuế để kích thích đầu tƣ, kích thích tiêu dung theo hƣớng giảm thuế đối với ngƣời nộp thuế, giảm thuế các yếu tố đầu vào của sản xuất kinh doanh qua đó kích thích quá trình sản xuất kinh doanh phát triển. Ngƣợc lại, trong thời kỳ mở mang, hƣng thịnh, với dấu hiệu là nhu cầu về lao động tăng, giá cả cao, kinh doanh lãi lớn, tăng trƣởng nhanh và đã có dấu hiệu của lạm phát, nhà nƣớc sử dụng thuế theo hƣớng ngƣợc lại để hạn chế sự phát triển quá nóng. + Thuế góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý; + Điều chỉnh tích luỹ tƣ bản: Thông qua việc giảm dần thuế suất huy động, thay đổi thuế suất; + Thuế góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nƣớc; + Áp dụng các biện pháp ƣu đãi thuế.
8 - Điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội. + Thuế là công cụ để nhà nƣớc can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải xã hội, hạn chế sự chênh lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cƣ trong xã hội[6]. + Điều hoà thu nhập giữa các tầng lớp dân cƣ có thể đƣợc thực hiện thông qua các sắc thuế trực thu; ngoài ra việc điều hoà thu nhập, định hƣớng tiêu dùng còn có thể đƣợc thực hiện một phần thông qua các sắc thuế gián thu. Phân loại thuế: 1.
Phân loại theo phương thức đánh thuế - Thuế trực thu: là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của ngƣời nộp thuế. + Ƣu điểm: động viên trực tiếp vào thu nhập chịu thuế; + Nhƣợc điểm: dễ gây ra phản ứng từ phía ngƣời nộp thuế. - Thuế gián thu: là loại thuế thu một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá, dịch vụ; + Ƣu điểm: đối tƣợng chịu thuế rộng, thuế ẩn vào giá bán hàng hoá dịch vụ nên ngƣời chịu thuế thƣờng không cảm nhận đƣợc gánh nặng của loại thuế này; + Nhƣợc điểm: do có tính chất luỹ thoái nên không đảm bảo tính công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế. Tuỳ theo đặc điểm trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi nƣớc mà xác định một tƣơng quan theo tỷ lệ huy động hợp lý giữa thuế trực thu và thuế gián thu.
Các cách phân loại khác - Phân loại theo cơ sở tính thuế: + Thuế thu nhập: cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm đƣợc; + Thuế tiêu dùng: cơ sở đánh thuế là thu nhập của tổ chức, cá nhân đƣợc mang ra tiêu dùng trong hiện tại; + Thuế tài sản: cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản; bao gồm: tài sản tài chính, tài sản cố định, tài sản vô hình nhƣ nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kỹ thuật… - Phân loại theo mức thuế: + Thuế đánh theo tỷ lệ %: bao gồm thuế luỹ tiến, thuế luỹ thoái, thuế tỷ lệ cố định. + Thuế đánh trên mức tuyệt đối: ấn định một số thu bằng tiền trên một đơn vị tính thuế nhƣ trọng lƣợng, khối lƣợng, diện tích, đơn vị sản phẩm. - Phân loại thuế theo chế độ phân cấp và điều hành ngân sách: + Thuế trung ƣơng: đƣợc Nhà nƣớc ban hành luật pháp và thu trong phạm vi toàn quốc; + Thuế địa phƣơng: thu trong phạm vi lãnh thổ vùng hoặc địa phƣơng và ngân sách nhà nƣớc ở địa phƣơng hƣởng. Ở Việt Nam áp dụng chính sách thuế thống nhất, không có thuế trung ƣơng, thuế địa phƣơng.
Các yếu tố cấu thành một sắc thuế - Tên gọi: phản ánh nội dung chính của từng loại thuế và để phân biệt với những loại thuế khác; Thƣờng đặt tên sắc thuế theo đối tƣợng đánh thuế (thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân…), theo từng mặt hàng (thuế rƣợu, thuế thuốc lá…) 10 hoặc theo nội dung (thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu…)[8]. - Ngƣời nộp thuế: xác định chủ thể có nghĩa vụ phải nộp thuế; Ngƣời nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế là thể nhân hoặc pháp nhân có trách nhiệm trực tiếp nộp thuế cho nhà nƣớc; trong một số trƣờng hợp, ngƣời nộp thuế không đồng thời là ngƣời chịu thuế. - Đối tƣợng chịu thuế: là đối tƣợng đƣợc đƣa ra để đánh thuế; mỗi một sắc thuế có đối tƣợng chịu thuế riêng, nhƣ hàng hoá, dịch vụ, thu nhập…; đối tƣợng chịu thuế thƣờng đƣợc tính theo đơn vị giá trị hoặc theo đơn vị vật lý. - Căn cứ tính thuế: căn cứ tính thuế đối với một số sắc thuế là cơ sở tính thuế và thuế suất;[8].
+ Cơ sở tính thuế là số lƣợng đơn vị (theo giá trị hoặc theo đơn vị vật lý) của đối tƣợng chịu thuế; mỗi sắc thuế có một cơ sở tính thuế riêng. + Mức thuế (thuế suất): thể hiện mức độ động viên của nhà nƣớc trên một đơn vị so với cơ sở tính thuế và đƣợc biểu hiện dƣới hình thức thuế suất hay định suất thuế; 1. Chính sách nhà nƣớc về thuế đối với vận tải hàng hóa bằng đƣờng bộ 1. Thực trạng ngành vận tải ô tô ở nước ta Vận tải bằng ôtô có ƣu điểm so với các loại hình vận tải khác là tổ chức vận tải từ nhà đến nhà, phục vụ đƣợc mọi nhu cầu từ hàng hoá đến hành khách.