CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÔNG VIỆC 1.1 Lý thuyết về sự hài lòng của người lao động trong công việc 1.1 Khái niệm về sự hài lòng trong công việc Sự hài lòng trong công việc là một trạng thái phức tạp và có rất nhiều khái niệm khác nhau. Một trong các định nghĩa đầu tiên về sự hài lòng công việc và được sử dụng nhiều nhất đó là định nghĩa của Hoppock (1935), trích dẫn bởi Scott và đồng sự (1960). Theo ý kiến của ông, hài lòng trong công việc được định nghĩa và đo lường trên hai khía cạnh: (1) đo lường sự hài lòng trong công việc nói chung; (2) đo lường sự hài lòng trong công việc ở các khía cạnh khác nhau liên quan đến công việc. Theo Vroom (1964), hài lòng trong công việc là trạng thái mà người lao động có định hướng hiệu quả rõ ràng đối với công việc trong tổ chức hay theo Quinn và Staines (1979) thì đó chính là phản ứng tích cực đối với công việc.
Nghiên cứu của Weiss (1967) định nghĩa rằng hài lòng trong công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động. Theo Armstrong (2006) sự hài lòng trong công việc có liên quan đến cảm xúc và thái độ của con người về công việc của mình. Thái độ tích cực và thuận lợi trong công việc là biểu hiện của sự hài lòng, ngược lại thái độ tiêu cực và bất lợi trong công việc chỉ ra việc không hài lòng. Theo Mullins (2010) mối quan hệ giữa tổ chức và người lao động chịu sự ảnh hưởng bởi những động lực thúc đẩy họ làm việc và những phần thưởng mà họ xứng đáng được hưởng.
Các yếu tố như bản chất của tổ chức, phong cách của người lãnh đạo và các nội dung được thiết kế trong công việc có tác động đáng kể đến sự hài lòng của người lao động và hiệu suất làm việc của họ. Từ những định nghĩa về sự hài lòng của các nghiên cứu trước, tác giả đưa ra định nghĩa về sự hài lòng trong công việc của người lao động là việc tổ chức đáp ứng lại được những nhu cầu mong muốn của người lao động trong công việc. Mức 8 độ hài lòng của người lao động bị ảnh hưởng bởi các khía cạnh như môi trường làm việc, năng lực lãnh đạo của cấp trên, đồng nghiệp, tiền lương, phúc lợi, quyền hạn và trách nhiệm trong công việc, phần thưởng, tính chất của công việc, mối quan hệ xã hội. Khi những nhu cầu về các khía cạnh này của người lao động được đáp ứng thì sự hài lòng của họ sẽ được tăng lên.
Sự hài lòng được biểu hiện thông qua cảm giác thoải mái, dễ chịu của người lao động đối với công việc của mình về mặt cảm xúc, suy nghĩ và hành động.2 Các mô hình lý thuyết về sự hài lòng Như kết luận được rút ra từ những khái niệm về sự hài lòng ở trên thì nhu cầu và mong muốn của con người trong môi trường công việc có ảnh hưởng đến sự hài lòng của người lao động. Trong đó nhu cầu được hiểu là sự cần thiết về một thứ gì đó, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và từ đó phân biệt nó với môi trường sống. Do đó, doanh nghiệp muốn đưa ra được các chính sách quản trị có hiệu quả thì cần nắm bắt được nhu cầu của người lao động để đáp ứng chính xác và kịp thời. Khi những nhu cầu của người lao động được thỏa mãn thì mức độ hài lòng trong công việc của người lao động sẽ tăng lên.
Dưới đây tác giả sẽ trình bày một số quan điểm và thuyết về nhu cầu đã được công nhận trước đây: 1.1 Thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Lý thuyết về tháp bậc nhu cầu của Maslow được đưa ra đầu tiên vào năm 1943 có ý nghĩa rất quan trọng vì là một trong những nghiên cứu khởi đầu về nhu cầu và động lực của con người. Maslow cho rằng, con người luôn có những mong muốn của riêng mình và luôn muốn nhiều hơn nữa. Những mong muốn của con người phụ thuộc vào những gì họ đang có ở hiện tại. Theo Maslow, nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao, đó là: - Nhu cầu sinh lý (physiological needs): là nhu cầu thấp nhất trong bậc thang nhu cầu Maslow.
Nhu cầu này được gọi là nhu cầu cơ bản, là những nhu cầu ban đầu để con người tồn tại như ăn, uống, mặc, không khí để thở, ngủ,. 9 Maslow cho rằng những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và con người sẽ bị hối thúc, giục giã khi các nhu cầu cơ bản chưa đạt được. Đối với người lao động, nhu cầu cơ bản này được thể hiện qua thu nhập (tiền lương cơ bản, thưởng hoặc các phụ cấp). Họ sẽ làm việc tốt hơn nếu thu nhập đủ trang trải các khoản chi phí cho bản thân và gia đình.
- Nhu cầu an toàn, an ninh (safety and security needs): bao gồm các vấn đề liên quan đến an toàn và an ninh trong công việc, các nhu cầu được bảo vệ khỏi các đe dọa tấn công về thể chất. Trong môi trường làm việc nhu cầu này bao gồm những yếu tố đảm bảo sự an toàn của người lao động tại nơi làm việc về cả đời sống vật chất và tinh thần, được thể hiện thông qua công việc ổn định, môi trường làm việc tốt, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các chính sách phúc lợi. - Nhu cầu xã hội (Love and belonging needs): Maslow thường gọi là nhu cầu tình yêu, chúng bao gồm các nhu cầu về việc cho và nhận tình cảm, tình thương, nhu cầu được thuộc về một tổ chức hay bộ phận nào đó của xã hội. Nhu cầu này được thể hiện trong các mối quan hệ với mọi người xung quanh của người lao động tại nơi làm việc như quan hệ với cấp trên, đồng nghiệp, khách hàng, đối tác.
- Nhu cầu được quý trọng (self–esteem): là nhu cầu được tôn trọng và tự trọng của bản thân, đôi khi là mong muốn về sự tự tin, độc lập, tự do, thành tích của bản thân. Đối với người lao động, nhu cầu này thể hiện ở việc những kết quả đạt được sau khi hoàn thành công việc cần được sự công nhận và đánh giá cao bởi tổ chức. Khi đáp ứng được nhu cầu này, người lao động sẽ làm việc tích cực hơn. - Nhu cầu tự thể hiện (self actualization): là nhu cầu cao nhất và cũng là nhu cầu khó được thỏa mãn nhất.
Nhu cầu này là mong muốn được thể hiện hết tất cả những tiềm năng của bản thân để trở thành những gì mà bản thân mong 10 muốn. Nhu cầu này được thể hiện ở cơ hội đào tạo, cơ hội thăng tiến, được tự khẳng định bản thân. Maslow cho rằng, các nhu cầu cấp càng thấp thì càng dễ được thỏa mãn hơn các nhu cầu ở cấp cao hơn. Một khi những nhu cầu ở cấp thấp được thỏa mãn thì con người sẽ tự động chuyển lên nhu cầu ở cấp bậc cao hơn và lấy đó làm động cơ thúc đẩy.1: Các yếu tố trong bậc thang nhu cầu của Maslow Được thể hiện ngoài nơi làm Nhu cầu Được thể hiện tại nơi làm việc việc Giáo dục, tôn giáo, sở thích, Cơ hội đào tạo, thăng tiến, phát Tự thể hiện phát triển cá nhân triển, sáng tạo.
Sự chấp nhận, tôn trọng của Được ghi nhận, vị trí cao, tăng Tự trọng gia đình, bạn bè, cộng đồng thêm trách nhiệm. Nhóm làm việc, đồng nghiệp, Gia đình, bạn bè, cộng đồng Xã hội lãnh đạo, khách hàng. Không lo sợ chiến tranh, ô Công việc an toàn, phúc lợi, An toàn nhiễm, xung đột công việc lâu dài Nhiệt độ, không khí, lương cơ Thức ăn, nước uống, tình dục Sinh lý bản.586) Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow đã có một hàm ý quan trọng đối với các nhà quản trị, đó là mỗi người lao động khác nhau đều đang nằm ở một cấp độ khác nhau trong tháp bậc nhu cầu. Do đó, không phải tất cả các chính sách nâng cao sự hài lòng đều có thể áp dụng có hiệu quả cho tất cả các trường hợp.
Điều các nhà quản trị cần làm là hiểu người lao động của họ đang ở cấp độ nhu cầu nào để từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm thỏa mãn nhu cầu của người lao động và nâng cao sự hài lòng của họ trong công việc.2 Thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) Nghiên cứu của Herzberg (1959) ban đầu được xây dựng bằng việc phỏng vấn 203 kế toán và các kỹ sư, những người này được chọn vì sự quan trọng của họ trong thế giới kinh doanh ngày càng tăng. Ông đề nghị họ liệt kê các nhân tố làm họ thỏa mãn và các nhân tố làm cho họ được động viên cao độ. Đồng thời yêu cầu họ liệt kê các nhân tố mà họ không được động viên và bất mãn. Kết quả của bản phỏng vấn đã đưa ra hai nhóm khác nhau của các nhân tố ảnh hưởng đến động viên và công việc.
Và Herzberg đã đưa ra lý thuyết hai nhân tố về sự thúc đẩy và sự thỏa mãn trong công việc. - Nhóm nhân tố thứ nhất được gọi là nhóm các nhân tố duy trì. Các nhân tố này nếu vắng chúng thì sẽ dẫn đến sự bất mãn trong công việc, nhóm các nhân tố này được bao gồm các nhân tố liên quan đến cả môi trường làm việc lẫn môi trường bên ngoài công việc như quan hệ đồng nghiệp, điều kiện làm việc, chính sách công ty, thu nhập, cuộc sống cá nhân, quan hệ cộng đồng. - Nhóm nhân tố thứ hai được gọi là nhóm các nhân tố động viên.
Các nhân tố mà nếu có chúng thì thúc đẩy các cá nhân nỗ lực đạt được hiệu quả trong trong công việc. Các nhân tố trong nhóm động viên liên quan đến bản chất của công việc như cơ hội thăng tiến, ý nghĩa thành tựu, sự công nhận khi công việc được thực hiện, ý nghĩa của trách nhiệm. Các nhân tố này các tác động đến sự thỏa mãn hoặc không thỏa mãn của người lao động chứ không tác động đến sự bất mãn của họ. Theo Nguyễn Hữu Lam (1996), khi những nhân tố duy trì được thỏa mãn, nhân viên sẽ không có sự bất mãn trong công việc, ngược lại sẽ dẫn đến sự bất mãn.
Khi những nhân tố động viên được thỏa mãn, nhân viên sẽ thỏa mãn trong công việc, ngược lại sẽ dẫn đến sự không thỏa mãn.