Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về sự hài lòng khách hàng khi sử dụng dịch vụ Internet Banking. Chương 3: Thực trạng hoạt động dịch vụ Internet Banking tại BIDV Bà Rịa. Chương 4: Phân tích sự hài lòng của khách hàng sử dụng Internet Banking tại BIDV Bà Rịa.
Chương 5: Gợi ý giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng sử dụng Internet Banking tại BIDV Bà Rịa. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ HÀI LÒNG KHÁCH HÀNG KHI SỬ DỤNG DỊCH VỤ INTERNET BANKING 2.1Khái niệm: Theo Pikkarainen và Pahnil (2004), Internet Banking như một cổng thông tin Internet được sử dụng bởi khách hàng đối với các loại dịch vụ ngân hàng khác nhau. Gkoutzinis (2006) thì cho rằng Internet Banking là dịch vụ ngân hàng sử dụng Internet làm kênh phân phối để thực hiện các hoạt động ngân hàng, như: chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, kiểm tra số dư tài khoản tiết kiệm, thanh toán tiền mua nhà, mua công cụ tài chính và chứng chỉ tiền gửi,… Sara (2007) định nghĩa Internet Banking là một dịch vụ ngân hàng bao gồm việc giới thiệu các dịch vụ ngân hàng, các hình thức cho vay, truy vấn số dư tài khoản, chuyển tiền,…và được cung cấp bởi một ngân hàng thông qua Internet. Còn theo Thông tư 29/2011/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trên Internet thì Internet Banking được định nghĩa là các dịch vụ ngân hàng được cung cấp thông qua Internet, bao gồm: tra cứu thông tin về khách hàng và tài khoản, truy vấn số dư và các thông tin khác; thực hiện các giao dịch tài chính trực tuyến như: dịch vụ về tài khoản, chuyển khoản, cấp tín dụng, thanh toán qua tài khoản; các dịch vụ khác theo quy định của NHNN.
Có khá nhiều định nghĩa về Internet Banking, nhưng nhìn chung, Internet Banking là một dịch vụ ngân hàng điện tử, một kênh phân phối từ xa các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thông qua Internet thay cho phương thức cung cấp dịch vụ mặt đối mặt kiểu truyền thống. Với dịch vụ Internet Banking, khách hàng có thể tự thực hiện các giao dịch ngân hàng thông qua mạng Internet mọi lúc mọi nơi mà không cần đến nhân viên ngân hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Lợi ích của dich ̣ vu ̣ Internet Banking: * Lợi ích đố i với ngân hàng: - Tiết kiệm chi phí: Việc cung cấp dịch vụ Internet Banking giúp ngân hàng tiết kiệm được khoản chi phí đầu tư mở rộng quầy giao dịch, thuê nhân viên để phục vụ các nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, góp phần giảm chi phí hoạt động cho ngân hàng. - Tiết kiệm thời gian, hạn chế lỗi tác nghiệp: Khi khách hàng thực hiện giao dịch trên Internet Banking, nhân viên ngân hàng sẽ tiết kiệm được thời gian hạch toán cho các giao dịch ấy, dẫn đến việc hạn chế được một số lỗi tác nghiệp của nhân viên do hạch toán sai.
Nhờ vậy mà nhân viên có nhiều thời gian hơn để nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. - Đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho khách hàng: Bên cạnh việc góp phần giúp ngân hàng đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho khách hàng, nhờ có Internet Banking, khách hàng có thể tiếp cận thêm được nhiều sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng, từ đó khách hàng có thể phát sinh thêm nhiều nhu cầu giao dịch khác. * Lợi ích đố i với khách hàng: - Tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, chính xác và nhanh chóng: Với dịch vụ Internet Banking khách hàng có thể tiết kiệm thời gian và cả chi phí cho việc đi lại, thời gian chờ đợi nhân viên ngân hàng phục vụ, đồng thời phí giao dịch qua kênh Internet Banking cũng thấp hơn so với kênh giao dịch tại quầy. Ngoài ra khách hàng có thể thực hiện nhiều loại giao dịch như: chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, nạp tiền điện thoại trả trước,… Với dịch vụ Internet Banking, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch với độ chính xác cao chỉ trong thời gian ngắn.
Dịch vụ Internet Banking giúp khách hàng chuyển tiền và thanh toán được chính xác hơn thông qua chức năng kiểm tra tài khoản đơn vị hưởng tự động trên trang web ngân hàng. Đây là điểm nổi bật hơn của Internet Banking so với kênh giao dịch truyền thống. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Tiện lợi và bảo mật hơn: Khi sử dụng Internet Banking, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch ngân hàng mọi lúc mọi nơi nếu có Internet, do vậy dịch vụ cũng bảo đảm sự riêng tư đối với khách hàng.2 Sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ Internet Banking: 2.1 Sự hài lòng của khách hàng: Oliver (1981) cho rằng sự hài lòng của khách hàng là sự đánh giá của khách hàng cho một trao đổi nhất định, nó phản ánh mối quan hệ giữa kỳ vọng của khách hàng và nhận thức của khách hàng về sản phẩm hoặc dịch vụ mà họ nhận được. Kolter và Armstrong (1999) cũng định nghĩa sự hài lòng là nhận thức của khách hàng trên cơ sở khách hàng so sánh giữa mong đợi của mình về dịch vụ và kết quả họ nhận được Như vậy, sự hài lòng khách hàng là trạng thái mà khách hàng đánh giá, cảm nhận về dịch vụ nào đó sau khi khách hàng đã được trải nghiệm.2 Chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử: Chất lượng dịch vụ luôn là vấn đề được quan tâm nhiều trong thời buổi kinh doanh hiện nay.
Theo Parasuraman và cộng sự (1988), chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ. Tương tự với ý kiến trên, Mohammad và Alhamadani (2011) cũng cho rằng chất lượng dịch vụ là cảm nhận của khách hàng,thể hiện khoảng cách giữa nhận thức của họ trước đó về chất lượng dịch vụ và mức độ thỏa mãn của họ với kết quả hiện tại của dịch vụ. Các định nghĩa trên là về chất lượng dịch vụ truyền thống, còn đối với chất lượng dịch vụ điện tử, Parasuraman và cộng sự (2005) cho rằng chất lượng dịch vụ điện tử là mức độ mà một trang web có khả năng tạo điều kiện cho việc mua sắm, đặt hàng và giao hàng một cách thuận lợi và hiệu quả. Một định nghĩa khác về chất lượng dịch vụ điện tử, Santos (2003) cho rằng đó là đánh giá chung của người tiêu dùng về sự xuất sắc và chất lượng cung cấp dịch vụ điện tử trên một thị trường ảo.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Nói chung, chất lượng dịch vụ điện tử đề cập đến việc đánh giá của người tiêu dùng về chất lượng cung cấp dịch vụ của một trang web.3 Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng: Cronin và Taylor (1992) cho rằng chất lượng dịch vụ là nhân tố tác động mạnh nhất đến sự hài lòng của khách hàng. Tương tự như vậy, trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai yếu tố này, Lee và cộng sự (2000) cũng chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ là tiền đề của sự hài lòng khách hàng. Nói cách khác, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có quan hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau, trong đó chất lượng liên quan đến việc cung cấp dịch vụ, còn sự hài lòng chỉ đánh giá được sau khi khách hàng đã sử dụng dịch vụ đó. Do đó, khi sử dụng dịch vụ, nếu khách hàng cảm nhận được dịch vụ có chất lượng cao, thì họ sẽ hài lòng với dịch vụ đó.
Đối với các dịch vụ thông qua Internet, việc khách hàng so sánh giữa các dịch vụ khác nhau dễ dàng hơn và chi phí chuyển đổi thấp hơn, giúp khách hàng dễ dàng thay đổi các nhà cung cấp dịch vụ (Santos, 2003). Do đó, để duy trì khách hàng, các ngân hàng nên cố gắng làm khách hàng hài lòng với dịch vụ của mình, và điều này có thể đạt được thông qua việc cung cấp dịch vụ có chất lượng cao.4 Mô hình nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng sử dụng Internet Banking: Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều mô hình được áp dụng để nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ Internet Banking. Dưới đây là một số mô hình được các nhà nghiên cứu thường hay áp dụng: * Mô hình SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1988): Theo Parasuraman và cộng sự (1988), mô hình SERVQUAL là mô hình có độ tin cậy và tính hợp lệ cao mà các nhà cung cấp có thể sử dụng để hiểu rõ hơn về kỳ vọng dịch vụ và nhận thức của khách hàng, từ đó cải thiện dịch vụ. Các thang đo đã được thiết kế để áp dụng trên một phạm vi dịch vụ rộng lớn thông qua 22 biến nằm gọn trong 5 thành phần sau đây: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Phương tiện hữu hình: Liên quan đến cơ sở vật chất, trang thiết bị và hình ảnh bên ngoài của nhân viên.
- Sự tin cậy: Liên quan đến khả năng thực hiện dịch vụ một cách hợp lý và chính xác. - Sự đáp ứng: Liên quan đến việc sẵn sàng giúp đỡ khách hàng và cung cấp dịch vụ nhanh chóng. - Sự đảm bảo: Liên quan đến kiến thức, sự lịch sự của nhân viên và khả năng truyền cảm hứng, cũng như sự tự tin khi giao tiếp với khách hàng. - Sự cảm thông: Liên quan đến sự quan tâm và chú ý đến khách hàng.
Phương tiện hữu hình Sự tin Sự cậy Chất cảm lượng dịch thông vụ Sự đảm Sự đáp bảo ứng Hình 2.1: Mô hình SERVQUAL Nguồn: Parasuraman và cộng sự (1988) * Mô hình SERVPERF của Cronin và Taylor (1992): Mô hình SERVPERF được Cronin và Taylor phát triển dựa trên nền tảng của mô hình SERVQUAL, nghĩa là cũng sử dụng 22 biến nằm trong 5 thành phần như mô hình SERVQUAL nhưng các tác giả cho rằng chất lượng dịch vụ có thể được xem xét thông qua thái độ, cảm nhận của khách hàng mà không đề cập tới kỳ vọng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 về dịch vụ đó của khách hàng, do vậy việc xem xét kết quả thực hiện thực tế sẽ xác định chất lượng dịch vụ tốt hơn. Vì vậy, mô hình SERVPERF còn có tên là mô hình đánh giá dựa trên kết quả thực hiện hay mô hình cảm nhận. * Mô hình E-SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (2005): Mô hình SERVQUAL và SERVPERF được các nhà nghiên cứu sử dụng khá phổ biến và được áp dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau.