CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ sự HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VÀ CHẮT LƯỢNG DỊCH vụ CHO VAY TẠI NGẲN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Những vấn đề cơ bản về chất lượng dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân ĩ.1 Địch vụ cho vay khách hàng cá nhân ỉ. ỉ Khái niệm Theo Philip Kotler và Kellers (2006) cho rằng “Dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này có thể cung cấp cho chủ thể kia. Trong đó đối tượng cung cấp nhất định phải mang tính vô hình và không dẫn đến bất kỳ quyền sở hữu một vật nào cả. Còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không cần gắn liền với một sản phẩm vật chất nào”.
Thông tư 39/2016/TT-NHNN định nghĩa “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao và cam kết cho các khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi”. Theo tác giả Phan Thi Thanh Hà (2013) đưa ra khái niệm “Cho vay là việc Ngân hàng cấp tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi trong khoảng thời gian xác định. Ngân hàng có thể cho vay bằng tiền hoặc chuyển khoản, tiền có thể chuyển tới tài khoản khách hàng hoặc tài khoản của người bán cho khách hàng”. Từ những khái niệm chung về dịch vụ và cho vay như trên, có thể hiểu “dịch vụ cho vay cá nhân là hình thức chuyển nhượng một phần vốn từ các NHTM sang KHCN thông qua một quy trình vay vốn nhất định để KHCN sử dụng cho nhiều mục đích khác 6 nhau như tiêu dùng, kinh doanh nhỏ lẻ hay mục đích khác theo đúng quy định đã cam kết trong hợp đồng vay”.2 Đặc điểm Dịch vụ cho vay cá nhân đã xuất hiện từ rất lâu và gắn liền với sự tồn tại của hệ thống NHTM vói những đặc điểm chính sau đây: - Đối tượng cho vay chính là những cá nhân, hộ gia đình.
có mong muốn đi vay để tiêu dùng, kinh doanh nhỏ lẻ hay đầu tư khác. - Thời hạn cho vay sẽ phụ thuộc vào mục đích vay vốn tưong ứng, thông thường sẽ có những hình thức cho vay ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn. - Rủi ro cho vay mà các NHTM phải gánh chịu khi cung cấp dịch vụ cho vay KHCN thường rất cao, vì số lượng KHCN thường nhiều và có rất nhiều đặc điểm cá biệt. Điều này thường dẫn đến những tình huống phát sinh khác nhau mà NHTM khó có thể lường trước được.
Do đó, để hạn chế và phân tán rủi ro từ cho vay KHCN, các NHTM sẽ gia tăng chi phí đi vay (lãi suất cho vay, bảo hiểm rủi ro. - Chi phí đi vay của KHCN là những chi phí khách hàng phải trả để có thể vay được vốn, thường sẽ gồm những khoản chi phí trả một lần để có được khoản vay như chi phí hồ so, thẳm định, bảo hiểm khoản vay. và chi phí lãi vay. - Chi phí cho vay của ngân hàng là những khoản chi mà NHTM phải chi trả để có thể cung cấp dịch vụ cho vay đến KHCN, chẳng hạn lưong cho cán bộ tín dụng, chi phí khấu hao nhà cửa, trang thiết bị và các khoản chi phí bán hàng, tiếp khách khác.3 Các hỉnh thức cho vay Vói số lượng KHCN rất lớn và nhiều mục đích vay khác nhau nên các NHTM cũng đã phát triển đa dạng các hình thức cho vay sao cho đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, cụ thể một số hình thức cho vay mà NHTM đang cung cấp gồm: 7 - Vay để sản xuất kinh doanh: Là khoản cho vay mà vốn được KHCN dùng cho mục đích kinh doanh như mua sắm, xây dựng tài sản cố định phục vụ cho sản xuất kinh doanh, bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp.
- Vay để tiêu dùng: Là khoản cho vay mà vốn được KHCN dùng cho mục đích chi trả các tiêu dùng cá nhân như mua nhà cửa, ô tô, điện thoại, nộp tiền học. - Vay thấu chi: Là khoản cho vay mà KHCN có thể sử dụng nhiều hon hạn mức ngân hàng cấp. - Vay từng lần: Là khoản cho vay mà KHCN phải thực hiện đầy đủ tất cả các thủ tục đi vay cho từng lần vay, tương ứng với một hợp đồng tín dụng riêng. - Vay theo hạn mức: Là khoản cho vay mà KHCN được các NHTM đồng ý cấp một hạn mức tín dụng tương ứng với tài sản đảm bảo mà KHCN cung cấp.
- Vay trả góp: Là khoản cho vay mà KHCN được chi nhỏ khoản nợ gốc để trả trong nhiều kỳ. - Vay gián tiếp: Là khoản cho vay mà KHCN có được thông qua những tổ chức khác không phải làNHTM như trường học, các hội nhóm. 4 Vai trò của khách hàng cá nhân đoi với ngân hàng Dịch vụ cho vay KHCN là một trong những kênh đem lại lợi nhuận chính cho hầu hết các NHTM, do đó cho vay KHCN được xem là dịch vụ có vai trò quan trọng cho sự phát triển của NHTM nói riêng và hoạt động kinh tế, xã hội của đất nước nói chung. Trên thị trường hiện nay có rất nhiều NHTM với những dịch vụ ngân hàng phong phú, luôn lấy khách hàng là trọng tằm nên KHCN có rất nhiều cơ hội để lựa chọn những dịch vụ chất lượng, phù hợp với nhu cầu riêng của mình.
Khi đó, ngân hàng nào có dịch vụ tốt, chính sách chăm sóc khách hàng có nhiều ưu điểm thì sẽ thu hút được thêm 8 nhiều KHCN mới cũng như giữ chằn được KHCN cũ, ngược lại, các NHTM sẽ mất các KHCN của mình nếu không cung cấp được dịch vụ làm hài lòng KHCN. Do đó, mỗi NHTM luôn cố gắng tìm ra những phương pháp tối ưu để có thể duy trì lượng KHCN hiện có, đồng thời tìm kiếm và mở rộng thêm nhiều KHCN mới, có như vậy lợi nhuận kinh doanh của NHTM mới đạt mục tiêu đề ra và ngày càng phát triển hơn.2 Chất lượng dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân Theo Parasuraman và cộng sự (1988) định nghĩa “Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể. Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ”. Như vậy, chất lượng dịch vụ là khái niệm được xác định thông qua hai yếu tố là gồm kết quả dịch vụ và quá trình cung cấp dịch vụ, trong đó: - Kết quả dịch vụ là sự đánh giá của người tiêu dùng liên quan đến kết quả của quá trình sản xuất dịch vụ (Lehtinen và Lehtinen, 1991).
- Quá trình cung cấp dịch vụ liên quan đến kết quả cuối cùng của quá trình được chuyển giao cho khách hàng như thế nào (Parasuraman và cộng sự, 1985). Theo tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam ISO-9000 cho rằng “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó có khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”. Trên cơ sở các khái niệm nêu trên, ta có thể hiểu “Chất lượng dịch vụ cho vay KHCN của NHTM là khả năng các NHTM đáp ứng và thỏa mãn được nhu cầu vay vốn của đối tượng KHCN sao cho các NHTM vẫn đảm bảo được sự an toàn và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh”.2 Sự hài lòng của khách hàng đối vói chất lượng dịch vụ 1.1 Sự hài lòng của khách hàng Sự hài lòng của khách hàng là kết quả của việc cung cấp dịch vụ và hàng hóa đáp ứng hoặc vượt quá nhu cầu của khách hàng. Kotler (2000) cho rằng “Sự hài lòng là cảm giác sung sướng về kết quả so sánh giữa giá trị cảm nhận thực tế sau khi sử dụng dịch vụ và kỳ vọng của mình về dịch vụ đó”.
Có hai cách để đánh giá sự hài lòng của khách hàng, đó là: - Đánh giá sự hài lòng theo từng giao dịch cụ thể: Được xác định theo trải nghiệm của khách hàng với một giao dịch sản phẩm/dịch vụ cụ thể (Olsen và Johnson, 2003). - Đánh giá sự hài lòng tích lũy: Là trải nghiệm tiêu dùng tổng thể của khách hàng với sản phẩm/dịch vụ theo thời gian (Gupta và Zeithaml, 2006). Khi khách hàng đánh giá chất lượng dịch vụ, họ thường so sánh mong đợi của mình trước khi tiêu dùng vói dịch vụ thực tế được cung cap. Neu hiệu suất của dịch vụ bằng hoặc cao hon mong đợi ban đầu thì sự hài lòng được đảm bảo.
Tuy nhiên, khi hiệu suất của dịch vụ thấp hon mong đợi (sự phủ nhận tiêu cực), khách hàng sẽ cảm thấy không hài lòng (Oliver, 1980). Như vậy, mức độ hài lòng của khách hàng được đo lường thông qua sự kỳ vọng ban đầu của khách hàng và kết quả mà khách hàng nhận được.2 Quan hệ giữa chat lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng Zeithaml và Bitner (2000) cho rằng “Sự thoả mãn của khách hàng là một khái niệm tổng quát nói lên sự hài lòng của họ khi tiêu dùng một dịch vụ, còn nói đến chất lượng dịch vụ là quan tâm đến các thành phần cụ thể của dịch vụ”. “Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng tuy là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu về dịch vụ. 10 Theo Cronin và Taylor (1992) thì “Chất lượng dịch vụ là nhân tố tác động nhiều nhất đến sự hài lòng của khách hàng.
Neu nhà cung cấp dịch vụ đem đến cho khách hàng những sản phẩm có chất lượng thỏa mãn nhu cầu của họ thì doanh nghiệp đó đã bước đầu làm cho khách hàng hài lòng. Nói cách khác, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có quan hệ tư ong hỗ với nhau, trong đó chất lượng dịch vụ là cái được tạo ra trước và sau đó quyết định đến sự hài lòng của khách hàng. Vì vậy, muốn nâng cao sự hài lòng khách hàng, nhà cung cấp dịch vụ phải nâng cao chất lượng dịch vụ. Mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố này là vấn đề then chốt trong hầu hết các nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng”.
Spreng và Mackoy (1996) khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cũng chỉ ra rằng “Chất lượng dịch vụ là tiền đề của sự hài lòng khách hàng, khi chất lượng dịch vụ được nâng cao thì sự hài lòng khách hàng sẽ gia tăng và ngược lại”. Mối quan hệ này được thể hiện qua sơ đồ 1.1 dưới đây: Hình 1.